Mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi

Ngành chăn nuôi

+ Quy hoạch các vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung với quy mô thích hợp nhằm phát huy thế mạnh của mỗi địa phương, đảm bảo thuận lợi cho sản xuất, chế biến tiêu thụ và vệ sinh môi trường.

+ Sản xuất hàng hóa gắn với thị trường.

+ Tổ chức chăn nuôi tập trung quy mô lớn gắn với việc xây dựng vùng an toàn dịch bệnh và xử lý ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi để có thực phẩm an toàn với năng suất và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân trong tỉnh và tham gia thị trường xuất khẩu.

Để thực hiện được các mục tiêu trên thì ngành chăn nuôi phải có một số định hướng sau:

(1) Tập trung phát triển chăn nuôi theo hướng năng suất và chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, phát triển chăn nuôi tập trung, trang trại tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa tập trung lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Ưu tiên phát triển những sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh như: lợn, gia cầm, bò thịt theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng đất, lao động, vốn đầu tƣ, xây dựng cơ chế chính sách phù hợp từng giai đoạn tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển đúng hướng, bền vững.

(2) Đẩy mạnh thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư tư nhân để phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, trang trại và công nghiệp. Chuyển dần chăn nuôi từ vùng mật độ dân số cao đến nơi có mật độ dân số thấp (thị xã Chí Linh, huyện Kinh Môn), hình thành các vùng chăn nuôi hàng hóa xa thành phố, khu dân cư, chuyển dịch cơ cấu vật nuôi theo hướng phát triển ổn định đàn lợn, tăng tỷ trọng đàn gia cầm; áp dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết các khâu trong chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn đến chế biến để nâng cao năng suất, giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; phát triển chăn nuôi gắn với xử l chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

(3) Giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả, tăng cường dịch vụ thú y, công tác kiểm dịch, hạn chế mức thấp nhất việc phát sinh dịch bệnh nguy hiểm; quy định chặt chẽ việc quản lý và sử dụng thuốc thú y; phát triển hệ thống giết mổ gia súc, gia cầm tập trung để quản l dịch bệnh và kiểm soát giết mổ.

– Thực hiện thúc đẩy chuyển giao khoa học kỹ thuật

– Đầu tư nghiên cứu khoa học, đưa tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, tạo ra các giống cây con có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao vào sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, thích hợp với từng loại hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp cho phát triển bền vững, an toàn về môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Thực hiện các chương trình: Chương trình giống nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi, thủy sản); Chương trình xây dựng cánh đồng mẫu lớn; Chương trình cải tạo và thâm canh vườn cây ăn trái; Chương trình xây dựng thương hiệu gắn với vùng nguyên liệu. Xây dựng các mô hình trình diễn, đào tạo các tiến bộ về KHCN.

– Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp và môi trường (vi sinh, tảo, thực vật, nấm). Cụ thể là tạo ra các sản phẩm đầu vào cho các ngành sản xuất phân hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất nấm (nấm ăn, dược liệu), sản xuất các chế phẩm xử l môi trường…

– Mở rộng các mô hình trình diễn: sử dụng hệ thống tưới phun, tưới nhỏ giọt có hệ thống điều khiển tự động hoặc bán tự động; sử dụng hệ thống nhà kính, nhà lưới, nhà màng PE có hệ thống điều khiển tự động hoặc bán tự động; ứng dụng công nghệ cao trong bảo quản, chế biến (điều chỉnh thành phần không khí: O2, N2, CO2,…); sử dụng enzym, mạng thông minh và công nghệ chế biến hiện đại: sấy chân không với công nghệ chiếu xạ, sấy lạnh, sấy nhanh bảo quản nông sản, tự động hóa giết mổ thủy cầm, chế biến thủy sản bằng dây chuyền công nghệ khép kín đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của quốc gia và quốc tế.

– Ứng dụng công nghệ thông tin, tự động hóa trong quy trình sản xuất, bảo quản, chế biến, quản lý lưu trữ dữ liệu truy nguyên nguồn gốc xuất xứ hàng hóa.

– Phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch và ngành nghề nông thôn

– Áp dụng các công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, tiêu hao ít vật tư, năng lượng, có khả năng chế biến sâu các sản phẩm có giá trị giá tăng cao, lựa chọn công nghệ khép kín, ít chất thải nhằm bảo vệ môi trường. Áp dụng quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn ISO 9000, TQM, HACCP… nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất, giảm giá thành đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

– Đẩy mạnh nghiên cứu KHCN tại các DNNN, phối hợp với các viện, trường nghiên cứu các đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm, đầu tƣ trang bị hiện đại cho công tác kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm, đầu tư các phòng thí nghiệm nghiên cứu chuyên ngành nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiểm soát chất lượng sản phẩm và nghiên cứu phát triển công nghệ mới.

– Đầu tư công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại vào các lĩnh vực chế biến gắn với quy hoạch phát triển các vùng nguyên liệu nông sản có chất lượng cao, quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp chuyên ngành được đầu tư kết cấu hạ tầng hoàn thiện bao gồm hệ thống xử lý chất công nghiệp nhằm hạn chế tối đa tác động đến môi trường trong quá trình sản xuất.

– Tái cơ cấu tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp

– Kinh tế trang trại. Khuyến khích hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển bền vững được xem như nội dung quan trọng hàng đầu của giải pháp đổi mới loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp; kinh tế trang trại được xem là mô hình tổ chức sản xuất quan trọng nhất trong giai đoạn 2025 – 2030

– Kinh tế nông hộ. Kinh tế nông hộ sản xuất quy mô nhỏ đã bộc lộ các hạn chế vốn có là số lượng hàng hóa ít, chất lượng thấp, quản lý kém, khó tồn tại và cạnh tranh trên thị trường, do đó, kinh tế nông hộ SXHH muốn tồn tại cần phải liên kết các hộ thành các câu lạc bộ, các tổ kinh tế hợp tác và HTX kiểu mới

– Kinh tế hợp tác đây là loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh được khuyến khích phát triển bởi tính ưu việt một khi được thành lập đảm bảo các nguyên tắc và hoạt động đúng mục đích. Do vậy, Chi cục Phát triển Nông thôn cần phối hợp với Phòng NN & PTNT các huyện, thành phố, thị xã tiến hành tiến hành điều tra

– khảo sát, tổng hợp đánh giá và phân loại đối với từng HTX NN, tổ kinh tế hợp tác nhằm tìm ra các nguyên nhân của hạn chế – yếu kém từ đó có biện pháp giải quyết thỏa đáng, đặc biệt là củng cố, hỗ trợ các tổ kinh tế hợp tác, HTX NN yếu kém. Tuyên truyền vận động đối với các nông hộ để họ tự nguyện xây dựng mới các tổ kinh tế hợp tác, HTX NN kiểu mới đối với một số ngành hàng: rau an toàn, quả đặc sản được sản xuất theo tiêu chuẩn Viet GAP, Global GAP. Tạo môi trường sản xuất – kinh doanh thuận lợi để tổ kinh tế hợp tác, HTX NN mở rộng liên kết sản xuất, kinh doanh, nhất là liên kết giữa sản xuất với các nhà phân phối – tiêu thụ nông sản thực phẩm tươi sống (rau, quả, thịt, trứng, cá, tôm, .).