Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB)

  • Quá trình chuyển đổi:Theo quan điểm của ECB, CSTT liên quan đến các quyết  định của các  NHTW nhằm tác động đến chi phí (giá cả, cost) và sự sẵn có của tiền trong nền kinh tế. Do  đó, giai đoạn đầu  khi  ra  mắt  đồng tiền chung EUR (1998), Hội  đồng Thống đốc đã  công  bố thông qua “định hƣớng chiến lƣợc ổn định CSTT “, bao gồm ba yếu tố chính: (i) định  lƣợng  mục  tiêu chính duy nhất của CSTT là ổn định giá cả; và ―hai trụ cột‖47  sử dụng để đạt đƣợc mục tiêu này là: (ii) lựa chọn mục tiêu tăng trƣởng cung tiền M3  ở mức 4,5%/năm do Hội đồng Thống đốc  thông  qua  vào  tháng  12/1998  (ECB,  2004) làm mục tiêu điều hành; và (iii) dự báo xu hƣớng lạm phát trong tƣơng lai, cũng nhƣ những rủi ro đối với  ổn định giá cả trong khu  vực  đồng Euro. Tuy nhiên, từ năm 2001,  tốc độ tăng trƣởng M3 bắt đầu vƣợt quá mức mục  tiêu 4,5%, lên mức  10,9% và 6,6% vào năm 2001 và 2002, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối  với  lạm phát. Đồng thời, hàm cầu tiền cũng trở nên không ổn định kể từ năm 2001 và ECB đã gặp khó khăn đối với  việc giải  thích cho sự gia tăng của M3  không  tƣơng  ứng  với  tỷ lệ lạm phát. Đến tháng 5/2003  khi sửa đổi chiến lƣợc CSTT, ECB đã  tuyên  bố  chuyển  sang  khung  khổ  CSTT  lạm phát mục tiêu (dƣới 2%) đang đƣợc áp dụng tại  nhiều NHTW  trên thế  giới và  sử dụng lãi suất là công cụ chính trong điều hành nhằm đạt đƣợc mục  tiêu lạm phát; và chỉ tiêu M3 chỉ đƣợc xem là giá trị tham khảo – ‗reference value‖ trong điều hành của ECB.
    • chế điều hành lãi suất:

    Trong khối liên minh của ECB điều hành CSTT đƣợc thống nhất  về  mục  tiêu  hàng đầu là ổn định giá cả (đƣợc xác định là sự tăng lên ở mức dƣới 2% của chỉ số giá tiêu dùng) và chiến lƣợc CSTT; mục tiêu ổn định tiền tệ phải đạt đƣợc trong thời gian trung hạn. Để thực hiện mục tiêu này,  ECB  đã công  bố  chiến  lƣợc  CSTT,  bao  gồm việc định lƣợng mục tiêu ổn định giá cả và  việc  xây  dựng một  khung khổ  vận  hành CSTT dựa trên mục tiêu lãi suất ngắn hạn.

  • Lãi suất liên ngân hàng  EONIA: là mức lãi suất bình quân gia quyền qua đêm trên TTLNH, đƣợc định hƣớng trong khung lãi suất áp dụng đối với  các  công cụ dự phòng của ECB (lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất tiền gửi  qua đêm). Lãi  suất  LNH  thực tế thƣờng dao động quanh mức lãi suất đấu thầu OMOs. Đây là mức lãi suất tham chiếu duy nhất đối với các  loại  lãi  suất  qua đêm trong khu vực  thị  trƣờng đồng Euro. Lãi suất này đƣợc tính theo phƣơng pháp  bình quân gia quyền hàng ngày của các giao  dịch cho vay không có bảo đảm do Hiệp hội ngân  hàng  khu  vực  chọn ra (gồm 57 ngân hàng trong khu vực). Ngoài  ra, đối với  các giao dịch trên thị trƣờng tiền tệ với thời hạn  từ 1 tuần đến 1 năm, sử dụng mức lãi suất tham chiếu là lãi suất chào LNH đồng Euro (EURIBOR). Lãi suất này cũng đƣợc tính theo phƣơng pháp bình quân các lãi  suất cho  vay của Hiệp hội ngân hàng.
    • Mô hình hành lang  sàn  lãi  suất: ECB đã thiết lập hệ thống hành lang lãi suất và đƣa vào vận hành từ tháng 6/1998 (hệ thống này kết hợp với sự ra đời của đồng tiền chung Euro vào năm 1999). Hai công cụ  dự  phòng  thanh  khoản  của  ECB  đƣợc  sử dụng để tạo thành sàn và trần của hành lang  lãi  suất  qua  đêm. Theo  đó, mức  sàn của  hành lang là lãi suất tiền gửi của ngân hàng (deposit facility), cho  phép các tổ chức tài chính có thể gửi  tiền qua đêm tại NHTW  các nƣớc trong khu vực  EURO (khi  lãi suất  thị trƣờng cao hơn mức lãi suất  tiền gửi sẽ  không khuyến  khích các ngân hàng gửi tiền tại NHTW). 48 Mức trần là lãi suất cho vay  qua  đêm  (marginal  lending  facility)  của ECB, cho phép các ngân  hàng  đƣợc  hỗ  trợ thanh  khoản qua  đêm không giới  hạn  với  chi phí cao hơn vay  từ  thị  trƣờng.  Trƣớc  khi  xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, ECB  đã điều tiết thanh khoản để điều hành lãi  suất  EONIA biến động trong trung  tâm của  hành lang, sát mức
    • Về sử dụng công cụ CSTT: Các công cụ CSTT của ECB gồm: nghiệp vụ thị trƣờng mở, các công cụ dự phòng (cho vay và nhận  tiền gửi  qua  đêm),    ECB định hƣớng lãi suất ngắn hạn trên TTLNH thông qua các nghiện vụ  trên OMOs  và  với công cụ cho vay và nhận tiền gửi qua  đêm. Trong đó, OMOs  đóng vai  trò  quan  trọng trong việc thực hiện mục tiêu định hƣớng lãi suất thị trƣờng, điều tiết VKD và phát tín hiệu về CSTT. Có 4 loại hình OMOs49, loại hình quan trọng nhất là các giao  dịch đảo ngƣợc (áp dụng trong hợp đồng Repo và các khoản vay có tài sản cầm cố). Tuy nhiên, trong khu vực đồng EURO, quyết định  điều  hành  CSTT  quan trọng nhất  của ECB  vẫn liên quan đến LSCS /mục tiêu (policy/key interest rates) là lãi suất  của công cụ tái cấp vốn chính (main refinancing operations –MRO) trên OMOs – đƣợc xác định sau mỗi phiên đấu thầu hàng tuần với tài sản thế chấp đƣợc ký quỹ với kỳ hạn một tuần.

    Các công cụ dự phòng đƣợc sử dụng với mục đích cung  ứng  và  hút  VKD qua  đêm, phát tín hiệu về CSTT và tạo khung  lãi  suất  định hƣớng  mức  lãi suất thị trƣờng qua đêm: (i) Lãi suất cho vay qua đêm từ ECB là trần lãi suất qua đêm trên thị trƣờng;

    (ii) Nhận tiền gửi qua đêm là sàn của lãi suất qua đêm trên thị trường.

    Cơ chế truyền dẫn của lãi suất mục tiêu (official interest rates): Sơ đồ 2.2 trên đây là quá trình mà qua  đó các  quyết  định CSTT của ECB ảnh hƣởng đến nền kinh tế  nói chung và mức giá cả nói riêng. Thông thƣờng,  Hội đồng  Thống  đốc  ECB (Governing Council of the ECB) sẽ quyết định chủ trƣơng điều hành CSTT trong cuộc họp đầu tiên hàng tháng và xác định mức  LSMT,  cũng  nhƣ  độ rộng của hành lang lãi  suất nhẳm đảm bảo khung lãi suất đƣợc điều chỉnh phù  hợp  với  mục  tiêu điều hành CSTT. Sau đó, ECB sẽ sử dụng một số công cụ thị trƣờng mở (nghiệp vụ tái cấp vốn chính) điều chỉnh thanh khoản để điều tiết  lãi  suất  TTLNH,  qua  đó  tác  động  đến lãi suất huy động và cho vay của TCTD đối với khách hàng.