Ngân hàng trung ương Malaysia (BNM)

  • Quá trình chuyển đổi:

NHTW Malaysia thƣờng xuyên xem xét, đánh giá lại  việc  điều hành  CSTT để đảm bảo chiến lƣợc về CSTT phù hợp với những thay đổi về môi trƣờng kinh tế và thị trƣờng tài chính. Chính vì vậy, từ giữa những năm  1990,  chiến  lƣợc  CSTT  của  Malaysia đã chuyển đổi từ mục tiêu trung gian là mục tiêu tổng tiền (M3) sang mục tiêu lãi suất. Lý do của việc chuyển đổi mục tiêu trung gian nhƣ vậy  là do  :  (i)  xu hƣớng toàn cầu hoá thị trƣờng tài chính đã làm cho  NHTW  Malaysia  khó  dự đoán cung- cầu tiền và tác động về mặt  lƣợng của CSTT đối  với  mục  tiêu ổn định giá cả,  kiểm soát lạm phát; (ii) Trong khi đó, việc  tự do  hoá lãi  suất  từ năm 1978 làm cho lãi suất đƣợc xác định trên cơ sở các yếu tố mang tính thị trƣờng hơn. Các biện pháp tự do hoá và nới lỏng các quy định trong thập kỷ đã tăng cƣờng vai trò của lãi  suất  trong cơ  chế truyền tải CSTT; (iii)  Hệ  thống tài chính Malaysia  đã có  sự dịch chuyển mạnh  mẽ và có những thay đổi về cơ cấu tài trợ  nền kinh  tế, chuyển  từ  thị  trƣờng ít  chịu tác động của lãi suất sang thị trƣờng nhạy cảm với lãi suất hơn (thị trƣờng vốn và tín dụng ngân hàng); và (iv) Các số liệu về lãi suất có thể thu thập tức thì trong khi  đó số liệu về  tổng khối lƣợng tiền (M3) chỉ có thể thu thập sau hàng tháng.

Lãi suất mục tiêu: Kể từ tháng 4/2004, BNM  đã công bố  áp  dụng  khung  khổ lãi suất  mới  nhằm  đáp  ứng sự phát  triển của nền kinh tế  trong bối  cảnh cơ sở hạ tầng tài chính đƣợc cải tiến  và  thúc  đẩy hiệu quả hoạt  động của các  ngân hàng. Khung khổ  lãi suất đƣợc thiết kế để nâng  cao  hiệu quả  truyền dẫn  CSTT thông qua việc  áp dụng  một LSCS liên quan chặt chẽ với các mức lãi suất khác  trên thị trƣờng nhằm đạt đƣợc  các mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng. Lãi suất chính sách qua đêm (OPR- mục  tiêu lãi  suất qua đêm LNH) có vai trò kép –  vừa  thể  hiện định hƣớng CSTT vừa  là LSMT để điều tiết thanh khoản hàng ngày của NHTW  thông  qua  sử  dụng  các  nghiệp  vụ  chính trên OMOs (các khoản vay không có tài sản đảm  bảo  với  thời hạn từ qua đêm đến 6  tháng; các giao dịch Repo (NHTW bán chứng khoán  và  cam  kết  mua  lại)  và  Reverse repo (Repo đảo ngƣợc); hay phát hành tín phiếu NHTW  với  kỳ  hạn  từ  3 tháng đến 1  năm hoặc trên 1 năm đối  với  các tín phiếu NHTW đƣợc phép giao  dịch trên LNH). Bất kỳ sự thay đổi nào về lập trƣờng CSTT sẽ đƣợc  báo  hiệu bởi  sự thay  đổi  của OPR (định kỳ hàng quý). OPR đóng vai trò  là lãi suất  tham  chiếu chính trong việc  xác  định các lãi suất khác trên thị trƣờng và ban đầu đƣợc xác định ở mức 2,70% (năm 2004).

Mô hình hành lang của NHTW Malaysia (BNM): Để giảm thiểu sự biến động lớn đối với lãi suất qua đêm LNH, BNM  thiết  lập một  hành  lang xung quanh  OPR với biên dộ ± 25 điểm cơ bản và đƣợc giới hạn bởi mức trần là lãi suất cho vay qua đêm và mức sàn là lãi suất tiền gửi qua  đêm. Thông thƣờng, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản  ngắn hạn các TCTD sẽ giao dịch  với  nhau  tại  mức  lãi  suất  nằm  trong  phạm  vi  hành lang trƣớc khi tìm đến các công cụ cho vay (thiếu hụt thanh khoản)/gửi tiền (thặng dƣ thanh khoản) qua đêm tại NHTW (OPR đƣợc  đặt  ở mức  3,25%, mức  trần là 3,5% và mức sàn là 3,0%).

Về sử dụng công cụ CSTT: Để đạt được các  mục  tiêu trung gian là lãi suất  ngắn hạn, NHTW Malaysia cũng đều  thực  hiện  theo  nguyên  tắc  sử  dụng  công  cụ CSTT để tác động trực tiếp vào mục tiêu hoạt  động.  Theo  đó,  BNM  đã kết  hợp  sử  dụng một số công cụ CSTT nhƣ OMOs, DTBB, mua bán trực tiếp trên   Trong điều kiện thị trƣờng trái phiếu chƣa phát triển làm hạn chế việc  sử dụng  OMOs, BNM  đã chủ yếu sử dụng các công cụ vay và cho vay trực tiếp trên TTLNH  với  lãi  suất  can thiệp để qua đó tác động đến mục tiêu trung gian là lãi suất.

chế tác động của lãi suất: Khi BNM thay đổi lãi suất can thiệp có tính chất LSCS thông qua họat động đấu thầu hàng ngày  nêu  trên sẽ  tác  động  đến toàn  bộ  lãi suất thị trường như lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi và lãi suất khác trên thị trường tiền tệ, đồng thời tác động nhất  định đến VKD  của các  ngân  hàng,  và  gián tiếp đến tỷ giá. Mức lãi suất cụ thể và  xu hƣớng lãi suất  thị trƣờng cũng có tác động  qua lại với  thay đổi về VKD, tỷ giá. Thay đổi về lãi suất  sẽ  có  tác  động  đến tình hình tài  chính doanh nghiệp và giá cả sản phẩm, qua đó tác  động  đến các  quyết  định tiêu dùng,  tiết kiệm hay đầu tƣ… – các yếu tố cấu thành tổng cầu. Bên cạnh đó, cùng với  các tác động của tỷ giá đến giá hàng nhập khẩu, những thay đổi về  mục  tiêu trung gian lãi  suất  qua  kênh truyền dẫn nêu trên tác động đến mục tiêu cuối cùng là lạm phát.