Ngân hàng trung ương Philippines (BSP):

  • Quá trình chuyển đổi: Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, BSP cũng là một trong những nƣớc chuyển từ khung khổ mục tiêu tiền tệ  sang  khung  khổ LPMT (tháng 1/2002) để nâng cao hiệu lực  điều hành  CSTT  và  phù hợp với  điều kiện  thực tế. Theo đó, mục tiêu CSTT của BSP là “thúc đẩy sự ổn định về giá để tăng trƣởng  kinh tế cân bằng và bền  vững”.  Việc  điều  hành  CSTT  theo  khung  khổ  LPMT  để  nhằm đạt đƣợc mức lạm phát thấp và ổn định,  hỗ  trợ tăng trƣởng kinh tế  (từ ngày 9/7/2010, BSP công bố chuyển từ mục tiêu lạm phát cố định hằng năm  sang mục tiêu lạm phát  cố  định trung hạn ở mức từ 4,0% ± 1% cho giai đoạn 2012-2014; và giai  đoạn 2016  – 2018  là ở mức 3,0% ± 1,0 %) và sử dụng lãi suất làm mục tiêu hay công cụ chính để vận hành khung khổ
  • Về chế điều hành lãi suấtVề mô hình lãi suất: Nhằm nâng  cao  hiệu quả  của cơ  chế  truyền tải CSTT,  từ  ngày 3/6/2016, BSP đã chính thức áp dụng hệ  thống hành  lang trung tâm để định hƣớng các lãi suất thị trƣờng ngắn hạn theo LSCS (là lãi suất mua lại đảo ngƣợc qua đêm của BSP), tƣơng ứng với cặp lãi suất trần –  sàn là lãi suất cho vay  – lãi suất tiền gửi qua đêm  (từ ngày 20/6/2018, LSCS ở vị trí  trung  tâm  tăng  0,25% lên mức  là 3,5%; biên độ lãi suất trần- sàn tƣơng ứng ± 0,5%). Hệ thống hành lang  lãi  suất  này đã giúp tăng cƣờng mối liên kết giữa điều hành CSTT của BSP và thị trƣờng tài  chính,  qua đó tác động đến nền kinh tế thực.

    – Về sử dụng công  cụ  CSTT:  Để  đảm bảo đạt đƣợc mức LPMT, BSP sử dụng một bộ công cụ CSTT để điều hành CSTT, bao gồm: Lãi suất mua lại đảo ngƣợc qua đêm (Overnight Reverse Repurchase – RRP) trên OMOs  là  công  cụ CSTT  quan  trọng  hàng đầu của BSP, đồng thời BSP  kết hợp sử dụng các  công cụ khác  để điều tiết thị trƣờng  bao gồm: công cụ tiền gửi có kỳ hạn (Term  Deposit  Facility-TDF);  các  công  cụ  dự phòng thanh khoản (Cho vay qua  đêm  –  Overnight  Lending  Facility-  OLF)  và  tiền  gửi qua đêm -overnight deposit facility – ODF); yêu cầu DTBB; Mua/bán  chứng khoán của Chính phủ, hoán đổi ngoại tệ Swaps trên OMOs.

    – Cơ chế truyễn dẫn: Những cải  tiến về  khung  khổ  CSTT và thiết lập hành lang lãi suất làm công cụ chính trong điều hành  CSTT  của BSP  trong  những  năm  gần  đây  đã giúp tăng cƣờng cơ chế truyền dẫn CSTT, qua đó  giúp kiểm soát tổng cầu và  mục  tiêu  cuối cùng là lạm phát thông qua năm  kênh cơ bản,  bao  gồm:  kênh lãi  suất, kênh tỷ giá, kênh tín dụng, kênh giá tài sản và kênh kỳ vọng (theo Sơ đồ 2.5).

    BSP có thể kiểm soát tốt hơn đối với các lãi  suất  kỳ hạn dài  hơn trong điều kiện  hoạt động của các ngân hàng ổn định hơn, tăng cƣờng cạnh  tranh trong hệ  thống ngân hàng, bổ sung nhiều công cụ tài chính  cho  thị  trƣờng vốn  trong nƣớc  nhằm  giúp các ngân hàng linh hoạt hơn trong việc quản  lý  thanh  khoản  và  phân phối  lại  các rủi ro, áp dụng các biện pháp tài chính thay thế.  Việc  BSP  cắt  giảm  các  khoản  vay  gần  đây  đã thúc đẩy thị trƣờng hoạt động nhanh  và  hiệu quả  hơn,  giúp hành  vi  đầu tƣ và  chi  tiêu  của các chủ thể phản ứng nhanh hơn với thay đổi lãi  suất. Việc  hợp nhất  các  ngân  hàng cũng có thể làm  tăng hiệu quả  của kênh truyền dẫn  lãi  suất  nếu tăng hiệu quả  hoạt động  và giảm đƣợc chi phí vận hành.

    Như vậy, mô hình điều hành CSTT theo mục tiêu lãi suất của NHTW các nước trên được thực hiện trong điều kiện kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, mục tiêu hàng đầu của CSTT là lạm phát (ổn định giá cả), lãi suất đã được tự do hóa, hệ thống ngân hàng phát triển và được quản trị phù hợp với các thông lệ và chuẩn  mực quốc tế, nền kinh tế  không bị đô la hóa hoặc ở mức thấp. Theo đó, việc điều hành  CSTT được thực hiện thông qua lãi suất thay cho khối lượng để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu, tạo điều kiện cho lãi suất ở mức thấp và biến động trong phạm vi hành lang lãi suất, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm và ổn định hệ thống tài chính . Đối với Việt Nam, đang trong quá trình phát triển, chƣa đáp ứng đƣợc các điều kiện trên nên cần áp dụng những kinh nghiệm phù  hợp để từng bƣớc  hoàn thiện cơ chế điều hành lãi  suất đáp ứng yêu cầu thị trƣờng và sự phát triển của nền kinh tế.