Ngân hàng trung ương Thái Lan (BOT):

  • Quá trình chuyển đổi:

Sau khi từ bỏ hệ thống tỷ giá hối đoái cố  định vào  tháng 7/1997, BOT đã quyết định sử dụng lãi suất (lãi  suất  thực)  làm  công  cụ chính trong điều hành  CSTT và  đến nay quốc gia này đã theo đuổi khung  khổ  LPMT những lãi  suất  vẫn  đƣợc  xem là công cụ quan trọng trong điều hành  CSTT.  Từ  tháng 5  năm  2000, BOT đã thông qua khung  khổ mục tiêu lạm phát linh hoạt (Flexible  Inflation Targeting  –  FIT)  và sử dụng lãi suất làm công cụ điều hành chủ yếu  của CSTT sau khi  chế  độ tỷ giá hối đoái cố định vào  tháng 7 năm 1997 thất bại và kết thúc khung khổ mục tiêu tiền tệ tạm thời theo chƣơng trình của IMF từ năm 1997 – 2000. Theo  cơ  chế FIT, BOT không chỉ đặt mục  tiêu giữ lạm phát trong biên độ mục tiêu (mục tiêu lạm  phát  cơ  bản  ban  đầu  của  BOT  nằm trong biên độ từ 0.5 – 3.0% theo  năm, nhƣng kể  từ năm 2016 đến nay,  BOT đặt mục  tiêu lạm phát trung hạn ở mức trung bình 2,5% ± 1,5% hàng năm)51.

  • Về chế điều hành lãi suất:

– Về lãi suất chính sách (Policy Interest Rate) là lãi suất Repo song phƣơng – Bilateral repurchase agreement – BRP (từ tháng 5/2000 đến 12/2006 sử  dụng  lãi  suất Repo kỳ hạn 14 ngày; từ 1/2007 chuyển sang lãi suất Repo  kỳ hạn  1  ngày)  để  đảm bảo  nền kinh tế có thể tăng trƣởng phù hợp với tiềm năng trong khi vẫn đảm bảo ổn định tài chính và ổn định kinh tế. Trong mỗi cuộc họp của Ủy  ban  CSTT (MPC)  diễn ra định kỳ  6-8 tuần, MPC cân đối giữa rủi ro tăng trƣởng, rủi ro lạm phát  và  các rủi ro tài chính  trƣớc khi đƣa ra các  quyết  định về  lãi suất điều hành. Tiếp đó, MPC phát  tín hiệu thay  đổi CSTT bằng cách đƣa ra thông báo về việc thay đổi LSCS.

Về sử dụng công cụ CSTT: Để triển khai quyết định về lãi suất  điều hành của MPC, BOT thực hiện các giao dịch tiền tệ để quản  lý thanh  khoản  trong hệ  thống ngân hàng và neo mức lãi suất ngắn hạn gần  với    Hiện  tại,  BOT  sử  dụng  4  loại  giao dịch thị trƣờng mở (OMOs) gồm: nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn (Repo) song phƣơng (BRP), mua/bán hẳn chứng khoán nợ  của Chính phủ (outright purchase/sale of debt securities), phát hành trái phiếu và tín  phiếu  NHTW,  và  các  giao  dịch  Swap  hối  đoái. Bên cạnh đó, BOT còn phối hợp với  các  công cụ CSTT khác  để thực hiện quyết  định về lãi suất của MPB bao gồm: yêu cầu DTBB và các công cụ dự phòng hỗ trợ thanh khoản (standing facilities).

Về chế tác động: Với việc theo đuổi khung khổ LPMT, thiết lập các công cụ CSTT để thực hiện mục tiêu đó, BOT đã dựa trên cơ chế truyền dẫn CSTT để đạt được mục tiêu LSCS: Sau khi MPB đƣa ra mục tiêu lạm phát, BOT điều chỉnh LSCS để đạt  đƣợc mục tiêu này bởi các công cụ trên OMOs. Lãi suất chính sách thay đổi  sẽ  ảnh  hƣởng toàn bộ nền kinh tế thông qua  05  kênh truyền dẫn  chính,  bao  gồm lãi  suất, tài  sản, tín dụng, tỷ giá và kênh kỳ vọng, nhằm giữ lạm phát ở mức mục tiêu (sơ đồ 2.4).