Nghiên cứu ngành TCMN mây tre lá dưới góc nhìn của lý luận chủ nghĩa Marx-Lenin

Kinh tế học Marxist đã đưa ra khái niệm về phân công lao động XH. Trong thời kỳ đầu của lịch sử, sự phân công lao động XH còn mang tính chất tự nhiên tức là phân công theo giới tính, tuổi tác… Ngày nay, trong phân công lao động XH được phân biệt bởi ba   cấp độ:

Phân công lao động chung là sự phân chia lao động XH thành những ngành lớn   như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các vùng khác nhau.

Phân công lao động đặc thù là sự phân chia lao động trong nội bộ những ngành SX theo hướng chuyên môn hóa.

Phân công lao động cá biệt là sự phân công lao động trong nội bộ xí nghiệp.

Qua mỗi thời kỳ hệ thống KT khác nhau bao gồm nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực cấu thành tồn tại và phát triển. Trong đó vai trò và vị trí của mỗi ngành là khác nhau, thực hiện những chức năng riêng biệt trong quá trình phát triển KT-XH, tạo thành cơ cấu KT   đặc thù của mỗi quốc gia. Ngay từ thế kỷ XIX, Engels đã cho rằng tỷ lệ chi tiêu cho những nhu cầu cơ bản, thiết yếu trong gia đình sẽ giảm xuống, đồng thời chi tiêu cho những nhu cầu về văn hoá – tinh thần như giải trí, du lịch sẽ gia tăng theo quy luật nhu cầu.

SP của ngành TCMN mây tre lá bên cạnh việc mang đầy đủ những đặc điểm của ngành SX nó còn là một sản phẩm KT đặc biệt. Nó được tạo ra nhờ quá trình lao động thủ công của những con người chân chất đến từ khắp các vùng miền của đất nước. Bất kỳ  ngành KT nào thì SP của nó cũng được tạo ra từ sức lao động, đối tượng lao động, công cụ lao động. SP trong ngành TCMN mây tre lá cũng như vậy, thời gian lao động XH cần thiết của người lao động kết tinh trong hàng hóa, chính lao động cụ thể của người lao động tạo nên giá trị sử dụng của SP. Sản phẩm của quá trình lao động hàng TCMN mây tre lá là SP  cụ thể và quá trình SX của nó gắn liền với quá trình tiêu thụ SP. Chính vì vậy không thể dùng trực quan để đánh giá chất lượng SP mà phải thông qua mức độ hiệu quả giá trị sử dụng, đóng góp cải thiện MT và mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng.

Giá trị sử dụng ở đây có thể là vật chất hoặc tinh thần. KT càng phát triển, thu nhập lao động ngày càng tăng, nhu cầu hưởng thụ các SP mang giá trị tinh thần ngày càng tăng. Giá trị của hàng hóa TCMN mây tre lá là do lao động trừu tượng của người lao động kết tinh lại trong hàng hóa, giá cả TT biểu hiện thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa TCMN mây tre lá tuân theo yêu cầu của qui luật giá trị, qui luật cung cầu và qui luật cạnh tranh.

Quy luật giá trị trong hoạt động KT đòi hỏi việc SX và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hóa hay thời gian lao động XH cần thiết. Quy luật giá trị của hàng hóa TCMN mây tre lá đó là thời gian để SX một hàng hóa trong điều kiện SX bình thường của XH với trình độ kỹ thuật tiên tiến, trình độ tay nghề khéo léo và cường độ lao động hiệu quả.

Cạnh tranh trong hoạt động ngành là quá trình cạnh tranh giữa những người nuôi trồng NVL, cung ứng SP và các nhà XK nhằm tìm kiếm những điều kiện thuận lợi trong  SX và tiêu thụ. Họ tìm mọi nỗ lực để làm giảm chi phí SX, tăng năng suất lao động, đổi  mới phương pháp quản lý, buộc người tham gia vào các công đoạn ĐV-SX-ĐR phải nhạy bén với TT, làm tăng chất lượng SP.

Tóm lại, các học thuyết KT của chủ nghĩa Marx-Lenin luôn là tiền đề, phương pháp luận khoa học không những cho các hoạt động KT-XH-MT  mà còn có ý nghĩa lớn lao  trong hoạt động ngành TCMN mây tre lá.