Nghiên cứu trong nước về năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về chủ đề năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may nói riêng cũng khá phong phú, nhất là từ khi đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Song, có điều đáng chú ý là, phần lớn các nội dung về năng lực cạnh tranh được đề cập rải rác trong nhiều công trình nghiên cứu, như một trong những nội dung của các vấn đề kinh tế, xã hội, luật pháp… Tuy vậy, cũng có những công trình nghiên cứu hoặc bài viết tập trung bàn về vấn đề cạnh tranh, năng lực cạnh tranh nói chung cũng của các ngành, các địa phương. Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến gồm:

Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay (Sách tham khảo) – Nhiều tác giả. Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà nội 2001. Đây là tập hợp các bài nghiên cứu của các nhà khoa học bàn một cách khá có hệ thống về nhiều vấn đề liên quan đến cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh, cả về phương diện lý luận lẫn chính sách và thực tế, đặc biệt là cách tiếp cận vấn đề từ góc độ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và những điểm đặc thù của mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam [68].

Tác giả Bùi Tất Thắng trong bài “Sơ lược về khung khổ lý thuyết của việc xác định lợi thế kinh tế so sánh” đăng trên Tạp chí Thông tin lý luận, số Tháng 10/1997, đã phân tích về vấn đề lợi thế kinh tế so sánh – một trong những nhân tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh qua việc so sánh các cách tiếp cận khác nhau của các học thuyết kinh tế, từ kinh tế học cổ điển đến hiện đại. Bài viết đưa ra nhận định “ Theo quan điểm tối ưu về kinh tế, về mặt nguyên tắc lý thuyết, các hoạt động có lợi thế so sánh thực xứng đáng được hỗ trợ cho dù là sự hỗ trợ không mang tính chất bóp méo; ngược lại, các hoạt động có được tính cạnh tranh chỉ do hoặc chủ yếu là do sự sai lệch giá cả không xứng đáng được hỗ trợ “ [19].

Tác giả Bùi Tất Thắng còn có bài viết về “Tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số tháng 11/2000, đã phân tích khái niệm về cạnh tranh, bản chất cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và thông qua việc đánh giá mức độ chuyển sang kinh tế thị trường để đánh giá mức độ cạnh tranh của kinh tế Việt Nam ở thời điểm giao thời của hai thiên niên kỷ [20].

Tác giả Phạm Thị Thu Phương trong công trình “Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả ngành may Việt Nam”, NXB Khoa học Kỹ thuật năm 2000. Những vấn đề lý luận về nâng cao hiệu quả và phát triển của ngành may Việt Nam đã được tác phẩm phân tích và làm sáng tỏ. Những giải pháp về việc phát triển sản xuất các sản phẩm đầu vào, sản phẩm thượng nguồn của ngành may đề cập đến, mặc dù còn gặp khó khăn trong việc triển khai liên quan đến việc phát triển các vùng nguyên phụ liệu dệt may [70].

Trong tác phẩm về “Phương hướng và các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành công nghiệp dệt may trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam” của tác giả Dương Đình Giám (2001) đã phân tích vị trí, vai trò, của ngành công nghiệp dệt may bằng việc phân tích khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra các phương pháp đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Việt Nam [49].

Ấn phẩm “Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bổi cảnh hội nhập” năm 2003 của tác giả Đỗ Thị Đông tập trung nghiên cứu chính sách phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của Việt Nam như Điện tử viễn thông, Thép, Dệt May, Da giày, …Đối với ngành công nghiệp dệt may, nội dung về giá trị gia tăng và chiến lược phát triển công nghiệp dệt may được phát triển dựa trên phương thức sản xuất kinh doanh gia công xuất khẩu và sản xuất xuất khẩu trực tiếp. Trên cơ sở đó, các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp dệt may đã được đề xuất khá rõ ràng [47].

Trong luận án tiến sĩ về “Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặc của Việt Nam trên thị trường Châu Âu – EU ” năm 2006 của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, tác giả đã tổng hợp, phân tích lý luận về khả năng cạnh tranh của hàng may mặc. Tác giả đã đề xuất Bộ tiêu chí cơ bản để đánh giá khả năng cạnh tranh của các sản phẩm hàng may mặc Việt Nam tại thị trường Châu Âu trên cơ sở lý luận và thực tiễn về khả năng cạnh tranh của hàng may mặc [61].Tuy vậy, luận án mới dừng lại ở góc độ thị trường EU, chưa đề cập đến thị trường chính dệt may Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Nhóm tác giả Phạm Thu Hương và cộng sự đã khai thác chủ đề “Chiến lược và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sau khi dỡ bỏ hệ thống hạn ngạch dệt may – một cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn cầu” theo dự án nghiên cứu hợp tác giữa Việt Nam – Đan Mạch có tên “Nâng cao năng lực nghiên cứu trong kinh doanh quốc tế và quốc tế hóa các doanh nghiệp Việt Nam” năm 2006. Kết quả phân tích cho thấy nhu cầu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chuyến từ xuất khẩu theo phương thức gia công (CMT) sang phương thức xuất khẩu trực tiếp (FOB). Nghiên cứu cũng đã chỉ ra Việt Nam đang tích cực chủ động tham gia chuỗi giá trị dệt may thế giới [71].

Trong bài báo của tác giả Nguyễn Trần Quế năm 2006 về việc “Nghiên cứu phương pháp phản ánh và phân tích về năng lực cạnh tranh “ đưa ra nhận định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa trên bốn tiêu chí
“ Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hoá sản phẩm; Tính cạnh tranh về giá cả; Khả năng thâm nhập thị trường mới; Khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và phương thức kinh doanh “. Bài viết cũng đồng thời đưa ra những tiêu chí để có thể phát triển các sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh như “Chất lượng sản phẩm cao; Năng lực sản xuất lớn; Góp phần quan trọng trong việc phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế; Có khả năng góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Gia tăng doanh số cho xuất khẩu và tạo thêm việc làm “[67].

Tác giả Vũ Quốc Dũng trên Tạp chí Tài chính doanh nghiệp số 9 năm 2007 với bài viết “ Dệt may Việt Nam hậu WTO: Thực trạng và những mục tiêu hướng tớiđã đi sâu vào đánh giá thực trạng phát triển của ngành Dệt May trong thời gian qua. Trên cơ sở bối cảnh hội nhập, nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp để khắc phục các tồn tại như cần phát triển nguồn nguyên phụ liệu dệt may tập trung như bông, xơ với quy mô lớn. Vai trò hỗ trợ của nhà nước thông qua các chính sách về tài chính, khoa học công nghệ cho các vùng trồng đay, gai… không tập trung cũng được đề cập đến [94].

Tác giả Nguyễn Thị Loan – Đại học Ngoại thương năm 2008 đã công bố ấn phẩm “Đẩy mạnh việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam”. Có thế coi đây là một trong những công trình nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về nâng cao năng năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp dệt may và chuỗi giá trị dệt may Việt Nam. Chỉ đáng tiếc là báo cáo này chưa lượng hóa phần đóng góp của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu [66].

Trong bài viết “Tổ chức lại cụm liên kết công nghiệp dệt may (CLKCN) nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu của ngành may xuất khẩu Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Đông trên tạp chí Kinh tế và Phát triển số 154 năm 2010, một trong những giải pháp được tác giả đề xuất để nâng cao năng lực xuất khẩu của sản phẩm dệt may Việt Nam là tổ chức lại các CLKCN dệt may [48]. Việc kết nối các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và sản xuất nguyên, phụ liệu trong các CLKCN sẽ tạo ra chuỗi giá trị sản phẩm hoàn thiện, tiết giảm được các chi phí logistic, thông tin thị trường chia sẻ hiệu quả hơn. Qua đó, giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may.

Bài viết “Tiếp cận chuỗi giá trị cho việc nâng cấp ngành dệt may Việt Nam” được đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Đại học Đà Nẵng số 2/2010 của nhóm tác giả Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng [85]. Bài viết đưa ra nhận định các yếu tố về hệ thống sản xuất và thương mại của ngành dệt may trên thế giới đang thay đổi dần dưới góc tiếp cận theo chuỗi giá trị toàn cầu. Bên cạnh đó, quy trình sản xuất sản phẩm với mô hình thiết bị gốc có thể được cải tiến và nâng cấp thông qua những chính sách hỗ trợ, không nhất thiết phải chuyển đổi đột phá hình thức gia công (CMT) sang phương thức xuất khẩu với thương hiệu qua nhà sản xuất.

Tác giả Hoàng Thị Liên – Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp – Bộ Công thương đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng thương hiệu của sản phẩm công nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực”. Mục tiêu của đề tài là tăng cường và nâng cao việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các sản phẩm công nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu đã đưa ra được hệ thống các giải pháp và các chính sách của nhà nước đề hỗ trợ các doanh nghiệp  phát triển thương hiệu sản phẩm[52]. Việc cải thiện môi trường kinh doanh đầu tư, chính sách về tiền tệ giúp các doanh nghiệp dệt may tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay ưu đãi, mua được ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm may mặc.

“Hoàn thiện chiến lược thương hiệu hàng may mặc Việt Nam theo tiếp cận cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài” là đề tài nghiên cứu khoa học do tác giả Nguyễn Bách Khoa – Trường Đại học Thương mại làm chủ nhiệm. Vấn đề cạnh tranh được tác giả tiếp cận để xây dựng các quan điểm và chiến lược phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp may mặc Việt Nam. Kết quả của công trình nghiên cứu đã chỉ ra được hệ thống các giải pháp và các kiến nghị với Nhà nước, hiệp hội dệt may để có những cơ chế, chính sách phù hợp. Theo đó, quản trị nhãn hiệu như một tài sản trí tuệ được coi là một trong những giải pháp căn cơ, đột phá giúp thương hiệu hàng may mặc có lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế [62].

“ Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương “ của tác giả Nguyễn Hồng Chỉnh năm 2017 đưa ra nhận định “ Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới, nhất là các FTA thế hệ mới như CPTPP, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thương mại dịch vụ toàn cầu, ranh giới giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài gần như bị san phẳng”. Theo đó, Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị dệt may thế giới thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, kêu gọi dòng vốn đầu tư, sản xuất kinh doanh; qua đô nâng cao sức cạnh tranh của Ngành dệt may Việt Nam khi là thành viên CPTPP [58].

Các nghiên cứu gần đây cho thấy tầm quan trọng của thị trường nội địa với các doanh nghiệp dệt may  Việt Nam. Bài viết “Một số vấn đề về phát triển thị trường nội địa đối với các doanh nghiệp may Việt Nam” trên Tạp chí Quản lý kinh tế năm 2012 của tác giả Đặng Thị Kim Thoa đưa ra nhận định “ thị trường nội địa không chỉ là một phân khúc thị trường mà với cái nhìn toàn diện, đó là hậu phương, là điểm tựa cho ngành may vươn ra thế giới” [41]. Với dân số hơn 90 triệu người thì thị trường nội địa có tiềm năng tăng trưởng rất lớn đới với ngành dệt may. Cùng quan điểm trên,  tác giả Dương Đình Giám đưa ra góc nhìn khá lạc quan, với tốc độ phát triển kinh tế xã hội và đời sống thu nhập người dân tiếp tục tăng cao, thì doanh thu của doanh nghiệp dệt may có thể đến từ 75 % thị phần trong nước [49].Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, việc cạnh tranh trên trường quốc tế là rất khốc liệt, điều này thôi thúc việc đẩy mạnh thị trường nội địa nhằm tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Hơn thế nữa, sản phẩm dệt may nội địa đã ngày một cải thiện về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng,..Rất nhiều các sản phẩm may có xuất xứ Việt Nam như May Hưng Yên, May 10, May Đức Giang, Việt Tiến, Nhà Bè, Phong Phú,… được một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng trong nước sử dụng. “ Tăng cường tiếp cận thị trường nội địa cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam “của Đặng Thị Kim Thoa đăng trên Tạp chí Kinh tế và phát triển năm 2013 đánh giá rằng “ các doanh nghiệp dệt may đang tập trung đầu tư vào công tác xây dựng thương hiệu, thiết kế mẫu mã, tổ chức mạng lưới bán lẻ và đẩy mạnh quảng bá sản phẩm nên giờ đây người tiêu dùng đã dễ dàng tìm thấy hệ thống bán lẻ hàng may mặc Việt Nam ở khắp các tỉnh, thành trên cả nước “. Hạn chế của tác giả là mới tập trung phân tích ở góc độ marketing và phân phối sản phẩm mà chưa xác lập được một chiến lược tổng quan cho việc phát triển sản phẩm dệt may Việt Nam tại thị trường nội địa.