Ngoại tác tích cực của giáo dục đại học đối với kinh tế, văn hóa, xã hội

1.        Ngoại tác tích cực (NTTC) của giáo dục đại học đối với nền kinh tế:

1.1.     Giáo dục góp phần vào việc phát triển kinh tế-xã hội:

Ngoại tác tích cực của giáo dục đối với người học: trong nền kinh tế, nguồn lao động đã qua đào tạo, có kiến thức và trình độ chuyên môn vững vàng luôn tạo ra năng suất lao động cao hơn nên dễ dàng cạnh tranh trong thị trường lao động hiện nay. Do đó, họ có thu nhập cao hơn và có môi trường làm việc tốt hơn nguồn lao động phổ thông không qua đào tạo. Ngoài ra, để có thể cạnh tranh trong thị trường lao động thì những người lao động phải có ý thức nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc; do đó những người được đào tạo tốt vô tình đã tạo áp lực, động lực học tập, tìm tòi cho những người lao động khác trong môi trường làm việc chung.

Ngoại tác tích cực của giáo dục đối với doanh nghiệp: một doanh nghiệp có nhiều nhân viên có trình độ, có nhiều người tài, thì doanh nghiệp sẽ hoạt động hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn, sản phẩm của họ tạo ra mang nhiều chất xám hơn, giá trị cao hơn; giúp tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, giá trị thặng dư mà doanh nghiệp tạo ra sẽ tăng lên. Đó là lý do vì sao các công ty lớn thường tổ chức các chương trình tuyển chọn người tài với những chế độ làm việc ưu đãi. Đặc biệt, ngày nay các công ty thường có xu hướng xây dựng quan hệ tốt với các trường đại học lớn thông qua các chương trình tài trợ, cung cấp học bỗng để trực tiếp tìm kiếm nguồn nhân lực được đào tạo tại các trường. Chẳng hạn Tập đoàn Hoa Sen thường tài trợ cho một số chương trình hoạt động của Khoa kinh tế-luật, ĐHQGTPHCM và tổ chức những chương trình tuyển dụng sinh viên năm cuối có thành tích học tập tốt tại trường về làm việc cho doanh nghiệp mình.

Như vậy, NTTC của giáo dục đại học tạo ra cho nền kinh tế chính là tổng hợp những NTTC mà chính người học và doanh nghiệp nhận được. Một đất nước mà người lao động có thu nhập cao, doanh nghiệp thu về nhiều lợi nhuận thì tổng thu nhập quốc nội (GDP) của quốc gia sẽ tăng lên. Ngoài ra, tăng nguồn thu cho ngân sách cho Chính Phủ, vì khi thu nhập của các cá nhân và thu nhập của doanh nghiệp tăng lên thì sẽ làm tăng nguồn thu từ thuế của Chính Phủ trong ngân sách quốc gia. Thu ngân sách tăng dẫn đến việc chi ngân sách của Chính Phủ cũng được nới lỏng hơn, việc cân đối nền kinh tế vĩ mô sẽ dễ dàng hơn.

Như vậy, thông qua việc đào tạo ra nguồn lực có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng vừa tạo cho người học cơ hội cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa giúp cho các doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận, tất cả những NTTC này đồng thời góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Đây chính là NTTC của giáo dục đối với nền kinh tế.

Theo báo cáo của một giáo sư đại học Harvard nghiên cứu về tình hình giáo dục tại Việt Nam: “Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc – đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình.” Như vậy, để thúc đẩy vai trò tích cực của giáo dục trong nền kinh tế thì Việt Nam cần nhìn nhận rõ mối quan hệ giữa phát triển giáo dục và phát triển kinh tế, từ đó có những định hướng phát triển đúng, thích hợp cho giáo dục Việt Nam.

1.2.     Vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế hiện nay:

Giáo sư Dale W. Jorgenson của Trường Đại học Harvard đã phân tích sự phát triển của nền kinh tế Nhật bản trong giai đoạn 1960-79 trong cuốn sách ‘So sánh quốc tế về sự tăng trưởng kinh tế’ như sau: “…đầu tư vào nguồn nhân lực thông qua việc nâng cao giáo dục và đào tạo cho lực lượng lao động Nhật bản là một đóng góp rất quan trọng cho việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng hai con số…”

Nhật Bản là một quốc đảo, phần lớn là núi, không giàu tài nguyên, hạn chế những nguyên liệu như dầu mỏ, gas, than đá, sắt… Trong suốt cuộc chiến tranh vào những năm 40, hầu hết các nhà máy bị phá huỷ và thiệt hại do các cuộc không kích. Khi cuộc chiến tranh đi qua, đất đai bị tàn phá nặng nề. Những gì còn lại đó là con người, khoảng 80 triệu người vào  thời gian đó. Sau một thời gian bắt tay vào xây dựng lại nền kinh tế, kinh tế Nhật Bản trong 18 năm, từ 1956 đến 1973 đã phát triển rất nhanh và lâu dài, nền kinh tế Nhật Bản tăng bình quân 9.4% / năm. Trong khi đó Việt Nam phải mất 10 năm, từ 1961 đến 1970,để tỷ lệ tăng trung bình là 2 con số, 10.2%. GDP trên đầu người tăng từ $292 trong năm 1956 thành $3,805 trong năm 1973.

Từ tình hình thực tế của Nhật Bản, có thể rút ra kết luận rằng một quốc gia muốn phát triển ổn định, bền vững thì sự phát triển đó phải được xây dựng dựa trên các yếu tố nội hàm của quốc gia đó; một yếu tố quan trọng nhất đó là nguồn nhân lực. Đặc biệt, khi nền kinh tế hội nhập sâu, giao lưu hợp tác quốc tế rộng thì nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao càng trở nên bức thiết; một quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ thúc đẩy việc đầu tư, hợp tác kinh tế dễ dàng hơn, thúc đẩy sự hội nhập kinh tế quốc tế.

Giáo dục là một loại hàng hóa công đặc biệt, giáo dục tạo ra một loại hàng hóa đặc biệt khác đó là hàng hóa sức lao động có chất lượng cao hay nói cách khác là tạo ra nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao; chỉ có hàng hóa sức lao động mới tạo ra giá trị thặng dư và sức lao động càng có chất lượng thì giá trị thặng dư tạo ra cho xã hội sẽ ngày càng lớn.

2.       Ngoại tác tích cực của giáo dục đối với văn hóa-xã hội:

2.1.     Khái niệm “ Môi trường văn hóa”:

Văn hóa, lối sống, môi trường và vấn đề xây dựng con người ở nước ta hiện nay là những vấn đề có tầm quan trọng chiến lược và liên quan mật thiết với nhau, taọ nên động lực mạnh mẽ của quá trình CNH-HĐH và phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta một lần nữa khẳng định đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; khi văn hóa bao trùm và thấm sâu vào các lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội, thì vấn đề xây dựng và giữ gìn một “môi trường văn hóa” phù hợp ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết.

Vây “môi trường văn hóa” là gì? Đó là tổng thể phức hợp các hiện tượng, các gía trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, văn hóa tâm linh, biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội, con người và con người; tác động đến con người, cộng đồng, xã hội trong những điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian nhất định. Xây dựng và phát triển văn hóa nói chung, môi trường văn hóa nói riêng không thể tách rời việc xây dựng nhân cách con người và rộng hơn là nếp sống xã hội.

2.2.     Giáo dục góp phần vào việc xây dựng “Môi trường văn hóa”:

Khi nhận được sự giáo dục tốt, con người sẽ có ý thức tốt hơn về các vấn đề như chủ quyền quốc gia, bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc. Từ đó có những hành động tích cực để bảo tồn, phát huy những giá trị đó. Những tài sản này không chỉ góp phần tạo nên bản sắc riêng của mỗi nước mà còn là niềm tự hào dân tộc cho thế hệ sau.

Vai trò của giáo dục trong việc tạo ra những công dân văn hóa cho xã hội: giáo dục góp phần tạo ra những công dân có trách nhiệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, có đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách tốt đẹp, hướng tới giá trị nhân bản. Như vậy giáo dục tham gia vào việc tạo ra những con người có văn hóa cho xã hội thông qua việc nâng cao dân trí, định hướng cho người học tự hình thành nhân cách cá nhân, xây dựng riêng cho mình những hoài bảo sống, để mỗi người học đều trở thành những con người có văn hóa, có ý thức trách nhiệm đối với những hành vi của bản thân, ý thức với xã hội và trưởng thành hơn trong nhận thức, lối sống. Đây cũng là những lợi ích mà người học nhận được từ một nền giáo tiên tiến, có chất lượng cao.

Nhằm phát huy vai trò trên của giáo dục, các trường học đại học hiện nay đã quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển phẩm chất, đạo đức cho các sinh viên, thông qua việc khuyến khích và tạo điều kiện cho sinh viên thành lập các nhóm tình nguyện, đội công tác xã hội, các chương trình giao lưu sinh viên trong các trường đại học,…Điều này thúc đẩy sự tham gia và khuyến khích sự quan tâm của sinh viên vào các vấn đề nhân đạo, công bằng xã hội. Với phương châm trên, trường Đại học Bách Khoa TPHCM đưa chương trình “15 ngày lao động công tác xã hội” vào chương trình giáo dục đại học, xem đây là yếu tố để xét sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp ra trường.

Hoạt động này không chỉ có lợi cho việc phát triển nhân cách cho người học mà còn có ý nghĩa thiết thực cho xã hội, góp phần giảm bớt sự lãng phí thời gian vào những hoạt động vô bổ của một số bộ phận thanh niên trẻ hiện nay, hạn chế sự tham gia của sinh viên vào các tệ nạn xã hội, giảm tỷ lệ tội phạm của thành phần này.

Bên cạnh đó, tác động này của giáo dục cũng đem lại những ích lợi nhất định cho Chính Phủ vì giảm bớt được khoản chi tiêu công cho khoản mục cảnh sát, an ninh để ổn định xã hội, hay chi phí cho các trung tâm phục hồi nhân phẩm. Hơn nữa, học vấn và tri thức có thể làm cho các công dân nhận thức và bầu chọn chính xác những người đại diện của mình vào trong hệ thống chính trị; điều này mang lại lợi ích tích cực lan truyền cho những công dân khác thông qua cải thiện chất lượng của tiến trình dân chủ.

Tuy nhiên, có một vấn đề cần chú ý là, không thể đồng hóa việc chỉ có những người nhận được sự giáo dục mới là người có văn hóa. Bởi, nhân cách của con người suy cho cùng được quyết định bởi môi trường sống của họ, giáo dục là yếu tố quan trọng nhưng không mang tính quyết định. Hiện nay vẫn có rất nhiều trường hợp những người được giáo dục nhưng vẫn có cách cư xử thiếu văn hóa, và lại có những người không được học nhiều nhưng vẫn sống rất tốt, được mọi người tôn trọng và cũng có những đóng góp lớn cho xã hội; những người này tuy không được giáo dục trên ghế nhà trường nhưng họ đã tự học tập trong cuộc sống. Điều này có nghĩa rằng việc học của con người không phải chỉ diễn ra trên ghế nhà trường trong khoản thời gian nhất định mà nó kéo dài suốt cuộc đời của mỗi người, “học, học nữa, học mãi”.