Ngoại tác tích cực mà y tế mang lại

Phân tích một số ngoại tác tích cực trong lĩnh vực y tế

1. Về xây dựng các cơ sở y tế:

  • Chính phủ đã đề ra và thực hiện những dự án về y tế nông thôn cho người dân. Với việc đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp về cơ sở hạ tầng, đầu tư mua sắm trang thiết bị cho hệ thống y tế tuyến cơ sở. Đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế của các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu vực.
  • Lợi ích của xây dựng cơ sở y tế: Thông qua các hoạt động đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nông thôn nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao, đồng thời giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên.
  • Trong dự án, các huyện đã được đầu tư xây dựng các hạng mục cơ  bản gồm nhà điều hành, nhà điều trị bệnh nhân, nhà mổ sản, trang thiết bị y tế. Dự án cũng đã đầu tư một phần về công nghệ tin học cho trung tâm y tế huyện để ứng dụng vào công tác quản lý hồ sơ, bệnh án, thuốc, bước đầu đạt kết quả tốt. Đặc biệt là khu xử lý chất thải y tế được lắp đặt theo dây truyền công nghệ Mĩ, đã đi vào hoạt động có hiệu quả, qua đó giảm hẳn tình trạng ô nhiễm tại khoa, phòng cũng như bệnh viện, góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của huyện.
  • Đồng thời đẩy mạnh nhiều hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ cho người dân trong huyện, tạo điều kiện cho người dân vùng nông thôn có khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu ngay tại địa phương. Tổng mức đầu tư trên một trăm tỷ đồng, dự án Y tế nông thôn đã đem lại tác dụng to lớn cho các hoạt động y tế tuyến cơ sở toàn tỉnh. Với việc áp dụng các dịch vụ y tế kỹ thuật mới như phẫu thuật, siêu âm, nội soi, xét nghiệm, số bệnh nhân đến khám, chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến huyện ngày một đông, qua đó giảm đáng kể số bệnh nhân phải chuyển tuyến. Đặc biệt hiệu quả mà dự án mang lại chính là, làm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân trong việc lựa chọn và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng, góp phần  bảo vệ sức khoẻ bản thân, gia đình và cộng đồng.

 2.  Tiêm chủng mở rộng (TCMR)

  • Là một trong sáu chương trình y tế quốc gia ưu tiên. Hiện nay dự án tiêm chủng thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm.
  • Chương tình tiêm chủng mở rộng bắt đầu tiển khai ở Việt Nam từ năm 1981, đến năm 1985 chương trình được đẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước. Từ năm 1986, tiêm chủng mở rộng được coi là chương trình y tế được quốc gia ưu tiên.
  • Năm 1990, 87% trẻ dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại kháng nguyên (Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt và Sởi). Đến nay, Việt Nam đã thanh toán được bệnh Bại liệt, loại trừ Uốn ván sơ sinh. Tỷ lệ mắc Ho gà giảm 183 lần, Bạch hầu giảm 82 lần; Sởi giảm 573 lần. Với các kết quả đạt được trong Chương trình tiêm chủng mở rộng, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong chương trình sức khỏe này.
  • Từ năm 1998, Chương Trình Tiêm Chủng Mở Rộng quốc gia đã đưa thêm 4 loại vắc xin viêm gan B, thương hàn, tả, viêm não Nhật Bản vào trong Chương Trình Tiêm Chủng Mở Rộng. Nỗ lực to lớn này đã tạo cơ hội cho nước ta từng bước khống chế hầu hết các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em Việt Nam.

*Lợi ích của tiêm chủng

  • Với sự phát triển của nền công nghiệp vaccin và sự triển khai rộng rãi hoạt động tiêm chủng, nhiều thế hệ trẻ em đã được bảo vệ khỏi nhiều bệnh dịch nguy hiểm. Với những hiệu quả vô cùng to lớn của tiêm chủng mang lại, các loại vaccin mới vẫn đang được tiếp tục tìm kiếm, mở ra những hy vọng mới cho con người. Có thể nói nhờ có vaccin và hoạt động tiêm chủng đã làm thay đổi rất nhiều mô hình bệnh tật trên thế giới.
  • Tổ chức Y tế Thế (WHO) giới ước tính rằng việc thanh toán bệnh bại liệt đã giúp cho chính phủ của các quốc gia tiết kiệm được 1,5 tỷ USD mỗi năm cho việc chi phí vaccin, điều trị và phục hồi chức năng. Nhiều chiến dịch tiêm chủng vaccin sởi  đang được triển khai ở nhiều nơi trên thế giới, người ta hy vọng đến năm 2012 bệnh sởi cũng sẽ được thanh toán.
  •  Phòng bệnh là vấn đề chính của y tế công cộng, vaccin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất để bảo vệ cho người tiêm không mắc bệnh và tránh xảy ra các vụ dịch lớn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng và chi phí của người dân. Các bậc cha mẹ luôn quan tâm đến sức khoẻ, sự an toàn của trẻ em và làm tất cả những gì có thể để bảo vệ con em mình. Vaccin là một sự lựa chọn an toàn và chất lượng đối với tất cả mọi người.
  • Trẻ em khi mới ra đời có miễn dịch với nhiều bệnh vì nhận được kháng thể từ mẹ, qua sữa. Tuy nhiên thời gian miễn dịch này có thể chỉ kéo dài 1 tháng cho tới 1 năm. Ngoài ra trẻ nhỏ không có được miễn dịch của người mẹ đối với một số bệnh có vaccin phòng bệnh như bệnh ho gà. Nếu trẻ không được tiêm vaccin và bị phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh cơ thể các em sẽ không đủ sức để chống lại bệnh tật. Trước khi có vaccin, rất nhiều trẻ đã tử vong do mắc các bệnh mà ngày nay đã có vaccin phòng ngừa như ho gà, sởi, bại liệt… Hiện nay, các tác nhân gây bệnh vẫn còn tồn tại, nhưng trẻ em hoàn toàn có thể được bảo vệ nhờ vaccin.
  • Việc tiêm phòng cho từng cá nhân cũng góp phần bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, đặc biệt là những người không được miễn dịch, bao gồm trẻ chưa đến tuổi tiêm vaccin (trẻ chưa đến tuổi tiêm vaccin sởi có thể bị nhiễm virut sởi), những người không được tiêm chủng do nguyên nhân y tế (như trẻ bị bạch cầu) và những người không có đáp ứng đầy đủ với tiêm chủng. Nhờ đó những người tiêm vaccin mà không có đáp ứng cũng được bảo vệ. Mặt khác, những người ốm yếu cũng ít có nguy cơ phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh. Tiêm chủng cũng làm chậm hoặc chặn đứng những vụ dịch.
  •  Ở nước ta, Chương trình TCMR đã được triển khai ở tất cả các vùng miền trên cả nước với nhiều loại vaccin khác nhau, mỗi năm có 1,5 triệu trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 7 loại vaccin, đã và đang tạo ra một cộng đồng được bảo vệ khỏi nhiều bệnh nguy hiểm, đặc biệt là bệnh viêm gan B, viêm não Nhật Bản. Hiện vaccin 5 trong 1 (bạch hầu – ho gà – uốn ván – viêm gan B – Hib) đã được đưa vào tiêm chủng cho trẻ em trên toàn quốc, giảm số mũi tiêm cho trẻ. Trẻ em Việt Nam đã được bảo vệ khỏi sự nguy hiểm của bệnh viêm màng não mủ và viêm đường hô hấp do vi khuẩn Hib.
  • Đối với người lớn trưởng thành thì thường chúng ta đã có kháng thể để chống lại một số tác nhân gây bệnh do chúng ta đã từng tiếp xúc với các nguyên nhân này nhưng không bị bệnh, hoặc đã khỏi bệnh. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều tác nhân gây ra những bệnh nguy hiểm mà chúng ta có khả năng phòng ngừa được bằng cách tiêm vắc xin do đó chúng ta cũng cần phải tiêm ngừa một số vắc xin ngừa các bệnh như: Viêm gan siêu vi, Viêm não nhật bản, Viêm màng não do Não mô cầu, Viêm phổi do Phế cầu, Cúm, Rubella, Trái rạ.

* Thành quả đạt được của Chương trình Tiêm chủng mở rộng

  • Từ năm 1995, chương trình tiêm chủng mở rộng phòng 6 bệnh: Lao, bại liệt, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự tham gia của các bộ ngành, đoàn thể nhân dân, sự giúp đỡ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, sự hưởng ứng của các bậc cha mẹ và sự  nỗ lực của ngành y, công tác tiêm chủng mở rộng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, làm thay đổi cơ cấu bệnh tật của trẻ em Việt nam. Tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em luôn đạt trên 90%. Việt nam đã thanh toán bệnh Bại liệt vào năm 2000 và đạt mục tiêu loại trừ uốn ván sơ sinh trên quy mô tỉnh. Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt nam đã đến 100% các xã, bản làng trong cả nước, đặc biệt còn tạo được nhận thức sâu sắc trong cộng đồng, làm cho người dân, các bậc cha mẹ nhận thấy tầm quan trọng của việc tiêm chủng đối với sức khoẻ của con em họ cũng như đó chính là trách nhiệm đối với đất nước.
  • Không chỉ dừng lại ở đó, trên cơ sở những thành quả đạt được từ năm 1997, chính phủ Việt Nam đã đồng ý với đề nghị của bộ y tế đưa thêm vào chương trình tiêm chủng mở rộng để tiêm miễn phí cho trẻ 4 loại vắc xin mới là viêm gan vi rút B, viêm não nhật bản, tả và thương hàn. Đây là một bước tiến mới quyết định sự thành công của chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam.
  • Hiện nay Việt nam đã và đang thực hiện chiến lược phòng chống sởi mới, tiến tới loại trừ sởi. Đồng thời, Việt nam cũng đang triển khai các biện pháp bảo vệ thành quả của công tác tiêm chủng mở rộng, từng bước giảm đến mức thấp nhất các bệnh truyền nhiễm có thể phòng chống bằng vắc xin ở trẻ em.

3.           Bảo hiểm y tế

  • Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận.
  • Bảo hiểm y tế được xem là một trong những nhân tố có tác động tích cực trong những hoạt động tích của chính phủ nhằm phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe của người dân cùng với những lợi ích mà nó đem lại cho chính phủ.
    • Có 3 loại BHYT:
    • Đối với người đang tuổi lao động mua bảo hiểm y tế là bắt buộc với cán  bộ công nhân viên nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân có 10 lao động  trở lên. Phí bảo hiểm xã hội là 5% lương trong đó có bảo hiểm y tế,  người lao động đóng 1/3, người chủ đóng 2/3.
    • Tự nguyện dành cho sinh viên, học sinh và các nông dân.  Nông dân đóng 30%, chính quyền chi 70% phí bảo hiểm y tế hằng năm.
    • Bảo hiểm  cho người nghèo và các đối tượng ưu đãi khác do nhà nước tài trợ hoàn toàn.
      • Dịch vụ bảo hiểm y tế gồm cả nhà nước và tư nhân cung cấp. Chủ cơ quan  và doanh nghiệp mua ở đâu thì mua mà người được hưởng bảo hiểm y tế  không có quyền được chọn, ngoại trừ cán bộ công nhân viên nhà nước là  chỉ định cụ thể theo khu vực, cấp bậc chính trị.

*Chính sách của Nhà nước về bảo hiểm y tế

1. Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội.

2. Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm y tế để bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Nguồn thu của quỹ và số tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm y tế được miễn thuế.

3. Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm y tế hoặc đóng bảo hiểm y tế cho các nhóm đối tượng.

4. Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong quản lý bảo hiểm y tế.

*Lợi ích của BHYT

Bảo hiểm y tế  giảm được một phần chi phí khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế khi bị ốm đau; hệ thống cơ sở khám chữa bệnh được mở rộng; đội ngũ cán bộ y tế được mở rộng về qui mô, nâng cao về chất lượng; các tiến bộ khoa học kỹ thuật của y học thế giới nhanh chóng được đưa vào áp dụng, v.v… đã hỗ trợ tích cực vào công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân, nhất là trẻ em, người già và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương khác như người nghèo, người dân tộc thiểu số.

Đảm bảo công bằng, phát triển trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe  của người dân đồng thời  nâng cao tính ổn định đồng thời giúp cho xã hội phát triển một cách toàn diện.

Thay đổi nhận thức của người dân trong việc lựa chọn giải pháp tài chính để chăm lo sức khỏe bản thân góp phần xóa đói giảm nghèo, đồng thời phát triển hệ thống an sinh xã hội ở nước ta.

Tạo thành hình thức tương trợ xã hội người giàu hỗ trợ người nghèo , người có việc làm hỗ trợ người không có việc làm, người không có bệnh hỗ trợ người có bệnh.

*Những kết quả đạt được

Công tác triển khai thực hiện các chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt là chính sách bảo hiểm y tế đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Nếu năm 2001 mới có 16 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (trong đó 12 người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc và khoảng 4 triệu người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện), chiếm khoảng 20% dân số cả nước thì năm 2009 đã có 53,3 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, chiếm trên 60% dân số cả nước.

Đặc biệt, Nhà nước đã thực hiện chương trình cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em dưới 6 tuổi và nhiều nhóm đối tượng dễ bị tổn thương khác; hỗ trợ một phần đáng kể phí đóng bảo hiểm y tế (50% phí đóng bảo hiểm y tế ở mức tối thiểu) cho người cận nghèo, học sinh sinh viên, v.v… Song song với các chương trình hỗ trợ phí tham gia bảo hiểm y tế, các chương trình tuyên truyền, truyền thông về lợi ích của bảo hiểm y tế đối với bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng được triển khai trên các phương tiện truyền thông, xuống từng địa phương, vào từng trường học. Kết quả là đã có 13,2 triệu người nghèo, gần 9,6 triệu học sinh, sinh viên tham gia bảo hiểm y tế.

Nguồn thu từ bảo hiểm y tế tăng nhanh do mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và có sự điều chỉnh tăng lương của Nhà nước. Số thu bảo hiểm y tế năm 2001 là 1.151 tỷ đồng và năm 2009 ước tăng lên 13.610 tỷ đồng.

Bảo hiểm y tế đã góp phần quan trọng vào giảm mức chết, gia tăng tuổi thọ của người dân nước ta. Năm 1999 tỷ suất chết trẻ trẻ sơ sinh là 36.7%o đã giảm xuống còn 16%o vào năm 2009. Tuổi thọ bình quân của người dân nước ta được cải thiện đáng kể, năm 2009 đạt 72,8 tuổi, tăng gần 5 tuổi so với 10 năm trước đó. So với các nước có trình độ phát triển kinh tế tương đương thì nước ta đã đạt được những thành quả này là đáng trân trọng bởi ngay cả các nước có nền kinh tế phát triển hơn nước ta khoảng 20-25 năm cũng mới chỉ đạt được các chỉ số ở mức tiến bộ như vậy. Tỷ suất chết trẻ sơ sinh của Thái Lan hiện ở mức 17,5%o và tuổi thọ bình quân của người dân nước này là 73 tuổi. Ở Malaysia, tỷ suất chết trẻ sơ sinh hiện là 16% còn tuổi thọ bình quân của người dân là 73,3 tuổi.