Người nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp

Người nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp
Đánh giá bài viết

Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, người có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế thu nhập công ty) khác nhau. Theo quy định của luật thuế Mỹ và Nhật thì chỉ có tổ chức kinh tế kinh doanh thì mới phải nộp thuế thu nhập công ty. Thái Lan quy định trong bộ luật thuế thu nhập là chỉ có công ty và các tổ chức hùn vốn có tư cách pháp nhân mới phải nộp thuế thu nhập công ty. Luật thuế TNDN của Việt Nam trước đây quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khá rộng. Bất kể tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau khi ban hành luật thuế thu nhập cá nhân thì luật thuế TNDN đã được sửa đổi và đối tượng chịu thuế TNDN chủ yếu là các tổ chức có thu nhập từ sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Bao gồm:

a)  Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b)   Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;

c)  Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;

d)  Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

Trong đó:

Các tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thành lập theo quy định của pháp luật Việt nam

Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung.

 Cơ sở thường trú của công ty nước ngòai ở Việt Nam

Cơ sở thường trú là cơ sở kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty ở nước ngoài thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam mang lại thu nhập. Việc xác định một cơ sở kinh doanh có phải là cơ sở thường trú của công ty nước ngòai ở Việt Nam hay không quyết định việc Việt Nam có quyền đánh thuế lên cơ sở kinh doanh đó hay không. Nếu có thì có thể đánh thuế lên khoản thu nhập nào.

Cơ sở thường trú của công ty ở nước ngoài chủ yếu bao gồm các hình thức sau :

–    Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, xưởng sản xuất, kho giao nhận hàng hóa, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu hoặc khí đốt, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên hay các thiết bị phương tiện phục vụ cho việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên;

–  Địa điểm xây dựng; công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; các hoạt động giám sát xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp

–  Cơ sở cung cấp các dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công cho mình hay một đối tượng khác;

–  Đại lý cho công ty ở nước ngoài;

–  Đại diện ở Việt Nam trong các trường hợp :

+ Có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty ở nước ngoài;

+ Không có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.

Trong trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó. So với những thỏa thuận về cơ sở thường trú của công ty nước ngòai tại Việt Nam ở hầu hết các hiệp định mà Việt Nam ký kết, luật thuế TNDN qui định đối tượng có thể bị xác định là cơ sở thường trú rộng hơn và vì vậy mà cơ sở kinh doanh của các công ty ở các quốc gia không ký kết hiệp định với Việt Nam có nhiều khả năng bị xác định là cơ sở thường trú hơn và xác suất bị đánh thuế ở Việt Nam là cao hơn. Ví dụ như trong luật thuế TNDN qui định rằng một địa điểm xây dựng của công ty nước ngòai được xem là cơ sở thường trú, trong khi đó ở nhiều hiệp định, một địa điểm xây dựng chỉ được xem là cơ sở thường trú nếu địa điểm đó tồn tại ở Việt Nam ít nhất là 3 hoặc 6 tháng.