Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đánh giá bài viết

 

1. Hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật  của NSDLĐ:

NSDLĐ sẽ bị coi là chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ không có căn cứ pháp luật hoặc không tuân thủ các quy định về thủ tục hoặc vi phạm các quy định về những trường hợp không được chấm dứt hợp đồng. (tức là không tuân theo quy định tại: khoản 1, khoản 2 Điều 17; Điều 31; Điều 38; Điều 39, Điều 111; khoản 1 Điều 85; Điều 86; Điều 87; khoản 4 Điều 155 BLLĐ).

2. Hậu quả pháp lí đối với NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật:

–   NSDLĐ vi phạm những quy định về lý do chấm dứt HĐLĐ, hoặc không làm đúng thủ tục luật định (như bàn bạc, nhất trí với Công Đoàn…): Trường hợp này NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm công việc theo HĐLĐ đã ký và bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có). Trường NLĐ không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, NLĐ còn được trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của BLLĐ.[1] (trợ cấp thôi việc được tính theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương[2]).

–   Trong trường hợp NSDLĐ không muốn nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường theo quy định trên còn phải trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của BLLĐ, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ để chấm dứt HĐLĐ.[3]

–   NSDLĐ vi phạm nghĩa vụ báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì phải bồi thường cho NLĐ khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày vi phạm thời hạn báo trước quy định tại khoản 3 Điều 38 BLLĐ[4] (tiền lương ngày của NLĐ nhân với số ngày vi phạm thời hạn báo trước).[5]

–   NSDLĐ phải “…có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên;…”[6]. Ngoài ra, NSDLĐ còn có thể bị XPHC theo quy định của Nghị định 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 quy định XPHC về hành vi vi phạm pháp luật lao động. (vd: điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định 113/2004).


[1] Đoạn 1 và 2 Khoản 1 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)

[2] Khoản 4 Điều 14 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về HĐLĐ

[3]Đoạn 3 Khoản 1 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)

[4] Khoản 4 Điều 41 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)

[5] Luận văn Thạc sỹ luật học. Đề tài: “vấn đề bồi thường thiệt hại theo luật lao động Việt Nam”. Nguyễn Ngọc Lan. Trường Đại học Luật Hà Nội. Hà Nội – 2005.

[6] Đoạn 1 Điều 43 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007)