Nguồn luật Điều chỉnh hợp đồng xuất nhập khẩu

 

          Trước khi giao kết một hợp đồng xuất nhập khẩu, các chủ thể luôn phải tìm hiểu trong hoàn cảnh đó hợp đồng qui định họ có những quyền và nghĩa vụ gì, như thế nào? Nếu một hợp đồng xuất nhập khẩu không chặt chẽ thì khả năng xảy ra tranh chấp là rất lớn, các bên dễ vi phạm hợp đồng. Trên thực tế, một hợp đồng xuất nhập khẩu dù được soạn thảo hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu cũng không tiên liệu trước được mọi tình huống có thể phát sinh trong quá trình thực hiện. Khi đó, những vấn đề phát sinh sẽ dựa vào cơ sở nào để giải quyết nếu như trong hợp đồng không qui định hoặc qui định không đầy đủ. Nếu là hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước thì thông thường luật quốc gia là cơ sở. Nhưng nếu là hợp đồng xuất nhập khẩu thì không đơn giản. Để giải quyết vấn đề này, theo sự thoả thuận của các bên tham gia hợp đồng, nguồn luật Điều chỉnh có thể là luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán thương mại quốc tế hay tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại.

1. Luật quốc gia

Luật quốc gia ở đây được hiểu là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia. Ví dụ: Nếu pháp luật Việt Nam được áp dụng thì không chỉ áp dụng luật Thương mại mà là toàn bộ pháp luật Thương mại, rộng hơn nữa là toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam. Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng xuất nhập khẩu trong các trường hợp:

  • Nếu Điều ước quốc tế mà quốc gia của chủ thể tham gia ký kết hoặc thừa nhận có qui định về Điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại thương, thì luật đó đương nhiên được áp dụng mà không phụ thuộc vào sự đàm phán và thoả thuận của các chủ thể.
  • Các bên thoả thuận trong hợp đồng xuất nhập khẩu cho phép áp dụng luật quốc gia.
  • Nếu các bên không đạt được bất kỳ một thoả thuận nào về luật áp dụng thì cơ quan thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ tự mình lựa chọn luật áp dụng căn cứ vào qui phạm xung đột của nước mình.
  • Trường hợp do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà các bên có thể thoả thuận lựa chọn luật áp dụng sau khi ký hợp đồng hoặc thậm chí sau khi đã phát sinh tranh chấp (khi đó các bên vẫn có quyền thoả thuận đưa tranh chấp ra xét xử theo trình tự trọng tài và quyết định áp dụng luật quốc gia nào để giải quyết tranh chấp mà hợp đồng chưa qui định về cơ quan giải quyết tranh chấp).
  • Có một vấn đề cần lưu ý là là tất cả các nước trên thế giới đều không cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài khi có lý do phải bảo vệ trật tự công cộng nước mình dù qui phạm xác định dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài.

Luật quốc gia được các bên lựa chọn có thể là luật nước người bán, nước người mua, luật của nước thứ ba hoặc luật của bất kỳ nước nào khác có quan hệ với hợp đồng, chẳng hạn như luật của nơi ký hợp đồng, nơi thực hiện nghĩa vụ, …

Khi lựa chọn pháp luật của một nước thứ ba, phải có hiểu biết về luật pháp của nước đó. Cần phải biết luật đó bảo vệ quyền lợi của người bán, người mua, luật đó có trái với chế độ chính trị hay vi phạm quyền lợi của chủ thể tham gia ký kết hợp đồng hay không.

Ở Việt Nam, luật quốc gia có liên quan đến hợp đồng ngoại thương nói chung và hợp đồng xuất nhập khẩu nói riêng là luật Thương mại 2005, bộ luật Hàng hải, bộ luật Dân sự 2005, luật thuế xuất nhập khẩu, … Ngoài ra còn hàng loạt các nghị định, nghị quyết, qui định, thông tư như NĐ số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 1 năm 2006, NĐ số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 2 năm 2006, NĐ số 72/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 nhằm qui định hoặc chi tiết hoá hướng dẫn việc thi hành các bộ luật này.

 

2. Điều ước quốc tế

            Điều ước quốc tế là sự thoả thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế mà chủ yếu là giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm thiết lập những qui tắc pháp lý bắt buộc để ấn định, thay đổi hoặc hoặc từ bỏ quyền và nghĩa vụ với nhau. Điều ước quốc tế về thương mại có vai trò hết sức quan trọng trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, nó là cơ sở pháp lý quan trọng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được thiết lập giữa các doanh nghiệp của các quốc gia đó, là cơ sở để tăng cường mối quan hệ thương mại trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể mà các quốc gia tham gia vì mục đích tăng cường hợp tác thúc đẩy phát triển kinh tế.

Mặc dù vậy, trong tư pháp quốc tế, Điều ước quốc tế không phải là nguồn luật chủ yếu chiếm ưu thế, vì để ký kết một Điều ước quốc tế cần có những điểm tương đồng về lợi ích trên cơ sở tương quan lực lượng giữa các quốc gia và còn những trở ngại về phong tục tập quán, nhưng đây là cách hữu hiệu nhất để giải quyết xung đột pháp luật, chúng có tác động chủ đạo và trực tiếp đối với hoạt động ngoại thương.

Điều ước quốc tế có thể phân chia thành Điều ước song phương và Điều ước đa phương hoặc cũng có thể phân chia thành Điều ước quốc tế Điều chỉnh trực tiếp và Điều ước quốc tế Điều chỉnh gián tiếp.

Đối với Điều ước quốc tế không Điều chỉnh trực tiếp hợp đồng mua bán ngoại thương không qui định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng mà chỉ Điều chỉnh ở tầm vĩ mô nhưng cũng là cơ sở để ký kết. Bao gồm các hiệp định thương mại. Nội dung của các Điều ước này chỉ định nguyên tắc áp dụng pháp lý chung giữa các quốc gia. Bao gồm chế độ đãi ngộ tối huệ quốc, chế độ đãi ngộ quốc gia, chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập, nguyên tắc có đi có lại, …

Đối với các Điều ước Điều chỉnh trực tiếp như công ước Viên 1980, công ước Lahayer, … Sau khi đã tham gia Điều ước quốc tế, các quốc gia thành viên phải thi hành Điều ước quốc tế có giá trị áp dụng bắt buộc trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia đó. Các qui phạm luật quốc gia ban hành phải phù hợp với Điều ước quốc tế (nguyên tắc nội luật hoá).

 

3. Tập quán thương mại quốc tế

            Tập quán thương mại là những thói quen thương mại được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài được nhiều nước công nhận và áp dụng rộng rãi trong những hoạt động thương mại nhất định. Thông thường thói quen thương mại được công nhận là tập quán thương mại quốc tế khi thoả mãn Điều kiện:

  • Thói quen được phổ biến được áp dụng thường xuyên và có tính chất ổn định.
  • Thói quen duy nhất về từng vấn đề ở từng địa phương, từng quốc gia hay trong từng khu vực.
  • Thói quen có nội dung cụ thể rõ ràng dựa vào đó có thể xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tập quán thương mại quốc tế trở thành nguồn luật để Điều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương trong các trường hợp sau:

  • Được các bên thoả thuận trong hợp đồng sẽ áp dụng.
  • Được qui định trong Điều ước quốc tế.
  • Hoặc trong trường hợp hợp đồng không có qui định gì vấn đề đang tranh chấp và Điều ước quốc tế liên quan với luật quốc gia được dẫn chiếu không qui định gì.

Điều 13 luật Thương mại Việt Nam 2005 qui định: “Trong trường hợp pháp luật không có qui định, các bên không có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc qui định trong luật này và trong bộ luật Dân sự”.

Tập quán thương mại quốc tế chung và phổ biến là: Điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2000), Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 500), Qui tắc về nhờ thu (URC).

Tập quán thương mại quốc tế là tập quán thương mại được nhiều nước công nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi, nhiều khu vực. Trong các hợp đồng xuất nhập khẩu thường dẫn chiếu tới tập quán thương mại quốc tế trong Incoterms do Phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế biên soạn vào năm 1936, sửa đổi bổ sung vào các năm 1953, 1967, 1980, 1990 và gần đây nhất là Incortems năm 2000 – qui định về Điều kiện giao hàng, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, như: chi phí trong giao nhận hàng hoá giữa các bên, thời điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua. Ngoài ra người ta còn áp dụng Qui tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) do phòng Thương mại và Công nghiệp quốc tế ban hành.

4. Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại

            Tiền lệ pháp về bản chất là việc sử dụng các phán quyết đã tuyên bố trước đây của toà án hoặc trọng tài trên cơ sở phân tích và vận dụng nó như một cơ sở pháp lý để các cơ quan tư pháp giải quyết tranh chấp về sau. Đối với một số quốc gia thì tiền lệ pháp không được coi là nguồn của pháp luật, nhưng đối với một số nước như Anh, Mỹ thì tiền lệ pháp được coi là một nguồn quan trọng của pháp luật.

Việt Nam không thừa nhận tiền lệ pháp, nhưng đối với hợp đồng xuất nhập khẩu nó có thể trở thành luật áp dụng nếu một trong hai nước mà chủ thể mang quốc tịch coi án lệ là một nguồn của pháp luật và luật áp dụng trong hợp đồng là luật của quốc gia coi án lệ là nguồn của pháp luật. Tuy nhiên việc sử dụng án lệ không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.