Nguồn lực tài chính ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Các DN hoạt động trong lĩnh vực CNHT đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn và kỹ thuật cũng như đầu ra trong điều kiện quy mô thị trường quá nhỏ. Các nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện trong ngành điện tử là những linh phụ kiện đòi hỏi sự gia công chính xác rất cao, và nguyên liệu chủ yếu phải nhập ở nước ngoài. Điều này đẩy chi phí sản xuất và yêu cầu về trang thiết bị máy móc và công nghệ. Các DN CNHT luôn thiếu vốn và công nghệ để có thể cạnh tranh được với các DN nước ngoài. Trong khi vốn và công nghệ là hai yếu tố rất cần thiết cho quá trình phát triển CNHT, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp chủ lực.

Trình độ KHCN, khả năng tiếp cận đổi mới công nghệ và chi phí cho nghiên cứu, phát triển là những yếu tố quyết định hàng đầu về chất lượng, tính năng của sản phẩm CNHT. Đặc điểm nổi bật của CNHT luôn yêu cầu vốn đầu tư lớn, sản lượng phải nhiều để có thể giảm giá thành và đảm bảo chất lượng. Trong khi các DN Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này đa phần là các DNNVV, vốn đầu tư ít, trang thiết bị công nghệ lạc hậu, trình độ tự động hóa thấp, quy mô nhỏ, thiếu hiểu biết về công nghệ thích hợp do không tiến hành các nghiên cứu hệ thống về công nghệ, chưa có thị trường vốn trung hạn và dài hạn nên DN ít có khả năng lựa chọn nguồn vốn, phụ thuộc gần như vào vốn ngân hàng; thêm vào đó thủ tục đầu tư phức tạp và mất thời gian. Khó khăn này càng tăng lên khi không có sự hỗ trợ cần thiết về kỹ thuật, công nghệ cao cho các công ty linh kiện phụ tùng Việt Nam từ phía các cơ quan chức năng. Bản thân hệ thống các trung tâm kiểm soát và kiểm định chất lượng linh kiện phụ tùng cũng gần như không có ở nhiều địa phương hoặc nếu có hệ thống này cũng hoạt động chưa thực sự hiệu quả.

Mặt khác, chủ trương của Nhà nước mới mang tính chất động viên tuyên truyền, Nhà nước chưa đầu tư đủ nguồn lực bao gồm ngân sách và nhân lực cho CNHT. Việc hoạch định cơ chế, chính sách ở Việt Nam, mới chỉ thuộc phạm vi của Chính phủ, ít có sự tham gia của các nhà tài trợ, các chuyên gia, các nhà khoa học.

Các quy định về quản lý tài chính còn rườm rà đang là một trong những trở ngại thu hút đầu tư. Nhà nước chưa có một chính sách sâu sát, cụ thể, thực tế và phát huy hiệu quả dành riêng cho lĩnh vực CNHT từng ngành. Mặc dù trên thực tế có nhiều đầu mối cùng triển khai các hoạt động trợ giúp phát triển CNHT nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng rất khó khăn và chưa thực sự nhịp nhàng ăn khớp. Cùng với đó là sự eo hẹp của ngân sách nhà nước, phần đầu tư cho ngành CNHT rất hạn chế khiến các DN hoạt động trong CNHT rất khó tiếp cận sự hỗ trợ của Nhà nước.

Điểm yếu về nguồn vốn của DN là sự khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng khi ngân hàng đang ngày càng chặt chẽ hơn trong quy định cho vay, tiếp đến là khả năng yếu kém của DN trong vấn đề huy động nguồn vốn một cách đa dạng qua nhiều kênh, điều này khiến cho các DN phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn tín dụng đang khó khăn. Vấn đề về nguồn vốn tự có của DN cũng được đánh giá là còn hạn chế, lãi suất vay vốn cũng không tốt. Như vậy các DN đang khá khó khăn về nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, điều này có nguyên nhân từ bản thân DN còn hạn chế và chưa chủ động trong việc tìm kiếm nhiều nguồn đầu tư khác ngoài tín dụng, còn có nguyên nhân từ chính sách cho vay, lãi suất quy định của Nhà nước đối với các DN trong lĩnh vực này. Điểm mạnh chỉ là vấn đề tiếp cận các thông tin về hệ thống tài chính, với việc các tổ chức tài chính, ngân hàng, các tổ chức đầu tư thường xuyên cung cấp thông tin một cách dễ dàng tra cứu trên mạng internet hay các kênh thông tin khác, đây là một cơ hội cho các DN có thể tìm kiếm từ các thông tin này một giải pháp thu hút vốn cho DN mình.