Nguy cơ từ hiện trạng thu hút và sử dụng nguồn viện trợ ODA tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước được nhận nhiều viện trợ ODA của các quốc gia phát triển và các tổ chức như World Bank, ADB, IMF…Tính đến năm 2007, cộng đồng quốc tế đã cam kết dành cho Việt Nam nguồn ODA với tổng giá trị gần 36,97 USD, đã ký kết 26,2 tỷ USD và giải ngân 17,9 tỷ USD[1] . Đặc biệt trong những năm gần đây, vốn ODA cung cấp cũng tăng khá mạnh (riêng năm 2008 sụt giảm nhẹ[2])(xem hình 3.3)

Tại Việt Nam hiện nay, nguồn vốn ODA được chính phủ tập trung vào phát triển nông lâm nghiệp (21%), cơ sở hạ tầng (33%), Giáo dục – đào tạo-y tế-khoa học công nghệ (31%) (3 ) . Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng ODA lại còn rất nhiều bất cập, đặc biệt là vấn nạn tham nhũng. Thất thoát lãng phí tuy không có số liệu thống kê chi tiết nhưng nhiều khả năng là một con số không nhỏ (nhất là sau vụ tham nhũng PMU 18 và vụ PCI- Đại lộ Đông Tây)

Nguồn ODA thực chất là món nợ vay lãi suất thấp (khoảng 0.75%/năm) và thời gian đáo hạn lớn (40 năm). Tuy nhiên, nếu quy hoạch, quản lý không hợp lý, những nguồn ngoại tệ này sẽ không những không giúp đất nước nhận viện trợ có thể công nghiệp hóa mà còn lại là gánh nặng cho các thế hệ sau.

Ngoài ra, theo kế hoạch, đến năm 2010 Việt Nam sẽ gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình (năm 2008, GDP tính trên đầu người của Việt Nam ước tính đã là 2014 USD). Vì vậy, việc thu hút vốn ODA trong những năm sắp tới sẽ ngày một khó khăn hơn.