Nguy cơ từ hiện trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Sau khi thông qua luật đầu tư nước ngoài (1986), thời kỳ đầu tiên (1988-1996), dòng FDI đổ vào Việt Nam trung bình hằng năm là 3.8 tỷ USD. Những năm 1997-1999, chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nguồn FDI sụt giảm mạnh (giảm gần 50%), chỉ đạt 1.82 tỷ USD/năm. Sau giai đoạn phục hồi chậm (2000-2003: trung bình 1.98 tỷ USD/năm), kể từ năm 2004, nguồn FDI tăng lên liên tục với tốc độ cao(  2004:115.38%, 2006:75%, 2007: 99%, 2008: 215%). Riêng năm 2008, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam và thế giới đang gặp nhiều khó khăn, FDI lại đạt mức kỷ lục 64.011 tỷ USD.

 

Tuy nhiên, vấn đề đáng lưu ý ở đây là phần lớn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là từ các quốc gia (và vùng lãnh thổ) từ Châu Á như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Công,… Việt Nam chưa thu hút được nhiều đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển, công nghệ nguồn. Các nước G8 chỉ chiếm 23.7% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam[1] .  (xem bảng 3.2)

Về việc sử dụng vốn FDI, điều đáng lo ngại là hầu hết các nhà đầu tư đều tập trung vào những ngành thâm dụng lao động, khai thác tài nguyên (dệt may,công nghiệp nặng, khai thác khoáng) chứ không phải những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao (Chíp điện tử, màn hình LCD,…) hay xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục.

Khi các ngành công nghiệp nặng được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, đầu tư, tạo được nguồn lợi nhuận sẽ thu hút được một lượng lớn lao động từ các ngành sản xuất khác qua. Điều này hiển nhiên sẽ làm thu hẹp sản xuất các ngành sản xuất còn lại của nền kinh tế. Tỷ trọng ngành công nghiệp nặng ngày càng tăng lên trong khi các ngành sản xuất khác (tất nhiên bao gồm cả các ngành sản xuất hiện đại) bị thu hẹp, kém phát triển.

Ngoài ra, công nhân khi tham gia vào các ngành sản xuất này sẽ không bị đòi hỏi tay nghề cao mà chỉ cần lao động đơn giản cùng với một mức lương hấp dẫn. Vì vậy, họ không có động lực củng cố tay nghề, học tập khoa học kĩ thuật… Đồng thời, thế hệ lao động sau sẽ có xu hướng không đi học mà chỉ đi làm những nghề đơn giản (như dệt may, thợ mỏ), không đòi hỏi trình độ cao. Như vậy, tỉ lệ người có trình độ cao trong xã hội sẽ giảm.

Từ những tác động trên, quá trình phi công nghiệp hóa tất yếu sẽ diễn ra. Không những vậy, một khi tài nguyên cạn kiệt, nhân công rẻ không còn là lợi thế, những nhà đầu tư này sẽ rút vốn về nước để lại phía sau một Việt Nam với nền công nghiệp vẫn lạc hậu và kém phát triển.

Khi ấy, Căn bệnh Hà Lan (phi công nghiệp hóa_deindustrialize) sẽ “ bùng phát ”