Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2000 – 2017

Sự tác động của Nhà nước đối với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua còn hạn chế do: (i) về quy hoạch: chất lượng của các bản quy hoạch cấp vùng còn thấp, chưa xác định đầy đủ phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; tổ chức thực hiện quy hoạch chưa nghiêm ngặt; chưa có sự điều chỉnh và bổ sung lại quy hoạch cho phù hợp với bối cảnh tình hình mới; (ii) về cơ chế, chính sách: các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng chỉ tập trung vào bốn sản phẩm chủ lực của vùng (lúa, cây ăn quả, thủy sản, du lịch) và công nghiệp chế biến nông thủy sản, nên đã thu hút đầu tư nhiều hơn vào các lĩnh vực này, làm cho các lĩnh vực này chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất.

Điều kiện tự nhiên: nổi bật là tác động kép từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và từ việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ sông Mê Kông làm cho hiện tượng ngập lũ trong mùa mưa và xâm nhập mặn trong mùa khô diễn biến phức tạp, khó lường; làm suy giảm lượng phù sa và nguồn lợi thủy sản trôi theo dòng nước sông Mê Kông chảy về vùng ĐBSCL; góp phần gây ra hiện tượng sạt lở nghiêm trọng bờ sông và bờ biển… Ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của nhóm ngành nông – lâm – thủy sản nói riêng và sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng nói chung.

Nguồn nhân lực: như trên đã phân tích thì cơ cấu tổng lao động xã hội phân theo nhóm ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua chuyển dịch theo hướng tiến bộ còn rất chậm chạp. Lao động nhóm ngành nông – lâm – thủy sản còn chiếm tỷ trọng cao nhất, ngược lại lao động nhóm ngành công nghiệp – xây dựng còn chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng lao động xã hội. Trong nhóm ngành dịch vụ thì lao động ngành thương nghiệp, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác, ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống còn nhiều nhất.

Mặt bằng dân trí còn thấp hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác của cả nước: theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2014 của TCTK cho thấy rằng tỷ trọng dân số có trình độ học vấn dưới tiểu học trong dân số từ 5 tuổi trở lên ở vùng ĐBSCL (36,8%) và tốt nghiệp tiểu học (34,4%) là cao hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác. Tuy nhiên, tỷ trọng dân số tốt nghiệp trung học cơ sở (15,8%) và tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên (13%) lại thấp hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác (xem Phụ lục 15).

Chất lượng nguồn nhân lực cũng thấp hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác của cả nước: theo TCTK (2017) thì tỷ trọng lao động không có trình độ CMKT trong tổng lao động xã hội ở vùng ĐBSCL (87,9%) là cao hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác. Ngược lại, tỷ trọng lao động có trình độ CMKT (12,1%) còn thấp hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác. Trong đó, tỷ trọng lao động được đào tạo nghề, có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học trở lên đều hầu như thấp hơn so với các vùng kinh tế – xã hội khác (xem Phụ lục 16). Trong khi đó, lao động có kỹ năng là tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững, thu nhập cao và đáp ứng được yêu cầu của các ngành trong việc sử dụng công nghệ hiện đại và lao động quản lý.

Vốn đầu tư: năng lực huy động nguồn lực vốn đầu tư còn rất hạn chế, cơ cấu đầu tư chưa thật hợp lý, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư có xu hướng giảm xuống.

Vốn đầu tư trên địa bàn vùng ĐBSCL còn ít, năm 2017 vốn đầu tư trên địa  bàn vùng ĐBSCL là 297.053 tỷ đồng, chỉ chiếm có 17,8% vốn đầu tư của cả nước. Trong cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn vùng ĐBSCL phân theo nguồn vốn thì tỷ trọng vốn của tổ chức doanh nghiệp có xu hướng giảm xuống, tỷ trọng vốn khu vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài rất thấp và phân bố không đồng đều giữa các tỉnh, thành trong vùng do môi trường kinh doanh còn nhiều hạn chế. Cụ thể là, tỷ trọng vốn của tổ chức doanh nghiệp trong vốn đầu tư trên địa bàn vùng ĐBSCL đã giảm xuống từ 27,8% năm 2010 xuống còn 20,5% năm 2017. Vốn khu vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2017 chỉ chiếm có 7,3% vốn đầu tư trên địa bàn vùng ĐBSCL (xem Phụ lục 17). Tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép tính đến hết ngày 31/12/2017 là 20 tỷ USD, trong đó Long An chiếm 34,7%, Tiền Giang chiếm 11%, Trà Vinh chiếm 15,3%, Kiên Giang chiếm 21,8%, 9 tỉnh thành còn lại chỉ chiếm có 17,2% vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài trên địa bàn (xem Phụ lục 18).

Trong cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn vùng ĐBSCL phân theo ngành kinh tế (cơ cấu đầu tư) thì tỷ trọng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến còn rất thấp, lại có xu hướng giảm xuống trong những năm vừa qua từ 21,5% năm 2010 xuống chỉ còn 14,5% năm 2017. Trong nhóm ngành dịch vụ thì tỷ trọng vốn đầu tư vào những ngành dịch vụ truyền thống sử dụng nhiều lao động phổ thông và cần ít vốn đầu tư còn cao (chẳng hạn như tỷ trọng vốn đầu tư vào ngành thương nghiệp, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác là 7,7% năm 2017); ngược lại, tỷ trọng vốn đầu tư vào những ngành dịch vụ có tính chất động lực, có tác dụng thúc đẩy quá trình CNH, HĐH còn thấp (chẳng hạn như tỷ trọng vốn đầu tư vào ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm là 2,3%; hoạt động khoa học và công nghệ là 0,3%; giáo dục và đào tạo là 3,4% năm 2017…) (xem Phụ lục 19).

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm xuống, thể hiện ở hệ số ICOR có xu hướng tăng lên, từ 2,6 năm 2005 lên 4,5 năm 2012 và lên 5,1 năm 2017, nghĩa là để tăng thêm 1% GRDP ở vùng ĐBSCL thì tỷ  lệ giữa vốn đầu tư so với GRDP theo giá hiện hành phải tăng ngày càng nhiều hơn.

Trình độ khoa học – công nghệ trong mọi nhóm ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian qua ngày càng được nâng cao, thể hiện ở năng suất lao động xã hội đã tăng lên từ 36,9 triệu đồng/lao động năm 2010 lên mức 75,7  triệu đồng/lao động năm 2017. Trong đó, năng suất lao động nhóm ngành nông – lâm – thủy sản đã tăng từ 27,1 triệu đồng/lao động năm 2010 lên 50,9 triệu đồng/lao động năm 2017. Năng suất lao động nhóm ngành công nghiệp – xây dựng đã tăng từ 50,3 triệu đồng/lao động năm 2010 lên 99,6 triệu đồng/lao động năm 2017. Năng suất lao động nhóm ngành dịch vụ cũng đã tăng từ 43,9 triệu đồng/lao động lên 96,3 triệu đồng/lao động trong giai đoạn này (xem bảng 4.19).

Tuy nhiên, trình độ khoa học – công nghệ trong các nhóm ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ ở vùng ĐBSCL hiện nay còn thấp hơn so với mức trung bình của cả nước, thể hiện ở: năng suất lao động nhóm ngành công nghiệp – xây dựng ở vùng ĐBSCL năm 2017 là 99,6 triệu đồng/lao động, thấp hơn năng suất lao động nhóm ngành công nghiệp – xây dựng trên phạm vi cả nước (cả nước năm 2017 đạt 120,8 triệu đồng/lao động); năng suất lao động nhóm ngành dịch vụ ở vùng ĐBSCL năm 2017 là 96,3 triệu đồng/lao động, cũng thấp hơn so với năng suất lao động nhóm ngành dịch vụ trên phạm vi cả nước (cả nước năm 2017 đạt 112,9 triệu đồng/lao động). Chỉ có năng suất lao động nhóm ngành nông – lâm – thủy sản ở vùng ĐBSCL năm 2017 (đạt 50,9 triệu đồng/lao động) là cao hơn so với năng suất lao động nhóm ngành này trên phạm vi cả nước (cả nước năm 2017 chỉ đạt 35,6 triệu đồng/lao động).

Khâu tiêu thụ hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn và thiếu ổn định do: (i) năng lực cạnh tranh cả về chất lượng, số lượng, giá thành và thương hiệu của hầu hết các loại hàng hóa ở vùng ĐBSCL còn thấp; (ii) riêng trong nhóm ngành nông – lâm – thủy sản thì sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn hẹp, chưa ổn định; (iii) đối với thị trường trong nước thì sức mua của dân cư tăng chậm và cơ cấu cầu vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể; (iv) đối với thị trường ngoài nước thì vẫn còn bị một số nước đánh thuế chống bán phá giá cao và áp dụng các biện pháp bảo hộ thông qua các rào cản kỹ thuật khắc khe.

Ngoài ra, kết cấu hạ tầng của sản xuất ở vùng ĐBSCL hiện nay còn nhiều yếu kém, nhất là hệ thống đường xá, cầu cống, hải cảng, các công trình thủy lợi thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ sông Mê Kông nhằm ngăn nước mặn và trữ nước ngọt. Kết cấu hạ tầng của sản xuất này chưa đáp ứng được yêu cầu của việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH ở vùng.

Việc tìm ra những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế cũng chính là những vấn đề đang đặt ra cần phải giải quyết ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới.