Nguyên nhân của hạn chế tín dụng bởi các tổ chức tín dụng chính thức

1. Thông tin bất đối xứng, sự không chắc chắn và rủi ro trong cho vay

Các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn khi cho vay ở nông thôn do không thật am hiểu người vay vì ít gần gũi họ như những người cho vay phi chính thức. Khi đó, sẽ xuất hiện hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa các tổ chức tín dụng và người vay, nghĩa là các tổ chức tín dụng không biết rõ người vay bằng chính bản thân họ nên khó kiểm soát việc sử dụng tiền vay và sẽ gặp rủi ro khi cho vay. Để thấy điều đó, hãy phân tích một tình huống trong đó một tổ chức tín dụng xem xét cho vay hai dự án có tỷ suất sinh lợi lần lượt là 15% (Dự án 1) và 20% (Dự án 2), mỗi dự án cần vay 100 đơn vị tiền (đvt) để đầu tư, lãi suất cho vay là 10%.

Giả sử hai dự án chắc chắn mang lại thu nhập lần lượt là 115 đvt (Dự án 1) và 120 đvt (Dự án 2). Khi đó, sẽ có sự tương thích giữa lợi ích của tổ chức tín dụng và lợi ích của người vay. Thật vậy, tổ chức tín dụng muốn thu được lãi suất 10% (dĩ nhiên là cùng với tiền gốc) nên muốn người vay thực hiện dự án có tỷ suất sinh lợi cao hơn (Dự án 2). Nếu người vay muốn có lợi nhất thì cũng sẽ thực hiện Dự án 2. Như vậy, cả hai đều hài lòng và vốn vay được sử dụng hiệu quả nhất.

Tuy nhiên, thu nhập của các dự án thường không chắc chắn vì thực tế luôn biến động khó lường. Để phản ánh thực tế này, giả sử Dự án 1 sẽ mang lại thu nhập là 230 đvt nếu thành công với xác suất là 50% và mất hết nếu thất bại với xác suất 50%; thu nhập của Dự án 2 vẫn chắc chắn như trước. Như vậy, thu nhập kỳ vọng của Dự án 1 bằng với thu nhập trước đây: (1/2) x 230 + (1/2) x 0 = 115 đvt.

Hãy xem xét lợi ích của tổ chức tín dụng và của người vay trong trường hợp không chắc chắn này, với giả định là nếu dự án thất bại, người vay sẽ không trả nợ vì đã mất hết. Rõ ràng, tổ chức tín dụng vẫn muốn người vay thực hiện Dự án 2 với tỷ suất sinh lợi là 20% vì dự án này giúp hoàn trả đầy đủ tiền vay cộng với tiền lãi một cách chắc chắn trong khi Dự án 1 chỉ có thể hoàn trả đầy đủ với xác suất 50%. Song, người vay sẽ không thực hiện Dự án 2 vì thu nhập từ Dự án 2 chỉ là: 120 đvt – (100 + 100 x 10%) = 10 đvt, trong khi thu nhập kỳ vọng từ Dự án 1 là: (1/2)x(230 – 110) + (1/2)x0 = 60 đvt. Rõ ràng, người vay sẽ thực hiện Dự án 1 (rủi ro) và tổ chức tín dụng sẽ không hài lòng nhưng không thể hay quá tốn kém để kiểm soát và cưỡng chế người vay thực hiện điều mình muốn (đó là thực hiện Dự án 2).

Sự khác biệt về lợi ích như trên phát sinh do trách nhiệm hữu hạn của người vay, nghĩa là người vay chỉ trả nợ nếu dự án thành công và không trả nợ nếu thất bại. Nói cách khác, trách nhiệm hữu hạn là nguyên nhân của việc người vay sẽ thực hiện các dự án rủi ro vì sẽ được lợi nếu thành công và không mất mát gì nếu thất bại (do không trả nợ). Một cách để các tổ chức tín dụng tránh hiện tượng này là yêu cầu người vay thế chấp tài sản.

Thế chấp tài sản là cần thiết nhưng sẽ làm cho nhiều người dân nông thôn càng khó tiếp cận tín dụng chính thức vì thiếu tài sản thế chấp hay tài sản thế chấp của họ quá đặc thù nên không được chấp nhận. Chẳng hạn, một hộ nghèo có một mảnh đất rất nhỏ để thế chấp nhưng các tổ chức tín dụng sẽ không chấp nhận vì chi phí bán đấu giá tài sản này là quá cao nếu người vay không trả nợ mà xác suất không trả nợ lại cao do người vay nghèo. Tương tự, một người nghèo khác muốn thế chấp sức lao động của bản thân để vay tiền điều trị căn bệnh hiểm nghèo cho con nhưng không tổ chức tín dụng nào chấp nhận vì có thể vi phạm pháp luật hay người này không thể làm được công việc mà tổ chức tín dụng cần, do đó sẽ từ chối cho vay. Kết quả là họ phải vay phi chính thức, tạo cơ hội cho loại hình tín dụng này tồn tại vì có cầu ắt sẽ có cung.

2. Khả năng kiểm soát và cưỡng chế trả nợ

Một yếu tố khác khiến cho các tổ chức tín dụng chính thức ngần ngại cho vay ở nông thôn chính là các khó khăn gặp phải trong việc kiểm soát và cưỡng chế người vay trả nợ. Nếu kiểm soát tốt, người cho vay có thể can thiệp kịp thời để thu hồi vốn ngay khi người vay có biểu hiện lệch lạc. Tính phong phú của thị trường tín dụng nông thôn là tài sản hiện có hay thu nhập sắp có dùng để thế chấp khó được chấp nhận bởi các tổ chức tín dụng chính thức nhưng lại dễ dàng được chấp nhận bởi những người cho vay phi chính thức. Hiện tượng này có thể thấy rõ khi nghiên cứu mối quan hệ giữa một người cho thuê đất với thỏa thuận chia sẻ kết quả thu hoạch với người thuê đất và đồng thời cho người thuê đất vay. Người thuê đất cần vay một số tiền để sản xuất và đề nghị người cho vay (cũng là chủ đất) cho mình thế chấp khoản thu hoạch sắp tới để vay. Rõ ràng, không tổ chức tín dụng nào chấp nhận loại thế chấp này vì thu hoạch sắp tới của người vay rất khó xác định, phụ thuộc vào nỗ lực của chính anh ta, thời tiết, giá sản phẩm và nhiều yếu tố khác mà các tổ chức tín dụng gần như không thể kiểm soát. Trái lại, người cho thuê đất sẽ chấp nhận thế chấp đó và đồng ý cho người thuê đất vay.

Điều gì khiến người cho thuê đất chấp nhận kết quả thu hoạch của người vay trong khi cũng phải đối mặt với rủi ro không trả nợ giống như các tổ chức tín dụng. Nếu phân tích kỹ, ta sẽ thấy người cho thuê đất có lợi thế hơn. Đồng ý chia sẻ kết quả thu hoạch với người thuê đất nghĩa là người cho thuê đất gắn lợi ích của mình với kết quả thu hoạch và do đó, sẽ có động cơ cho người thuê đất vay tiền để chăm sóc mùa màng cho tốt. Ngược lại, người thuê đất cũng có động cơ chăm sóc mùa màng tốt hơn vì nếu không thì người cho vay sẽ phát hiện (do sống cạnh bên hay gần đó) và sẽ không tiếp tục cho thuê đất cũng như không cho vay. Như vậy, người cho thuê đất phụ thuộc vào người thuê đất để có thu nhập; đồng thời, người thuê đất phụ thuộc vào người cho thuê đất để có đất canh tác và vốn sản xuất. Mối quan hệ tương hỗ này làm tăng lợi ích cho đôi bên nhưng không tổ chức tín dụng nào xây dựng được nên ngại cho vay vì sợ không thu hồi được tiền cho vay.

Một nguyên nhân khác của việc các tổ chức tín dụng ngại cho vay ở nông thôn trong khi những người cho vay phi chính thức vẫn đều đặn làm việc này là khả năng cưỡng chế trả nợ nhằm giảm thiểu rủi ro.

Trong lĩnh vực tín dụng, thông tin bất đối xứng ngụ ý rằng các tổ chức tín dụng không hiểu rõ mức độ rủi ro của người vay như chính bản thân họ cho nên không thể phân biệt giữa người vay rủi ro và người vay an toàn. Nếu không phân biệt được, điều tự nhiên là các tổ chức tín dụng sẽ yêu cầu mọi người vay trả lãi suất cao hơn để bù đắp thiệt hại do rủi ro gây ra. Song, việc tăng lãi suất như vậy có thể làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng do sự chọn lựa sai lầm của chính các tổ chức tín dụng và động cơ lệch lạc của người vay. Luận điểm này có thể được giải thích như sau (Stiglitz và Weiss, 1981).

Việc tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các tổ chức tín dụng theo hai hướng đối nghịch nhau. Một mặt, lãi suất tăng sẽ làm tăng lợi nhuận nếu các yếu tố khác không đổi. Mặt khác, lãi suất tăng lại có thể làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng do ảnh hưởng của sự chọn lựa sai lầm với cơ chế tác động như nhau. Trong thực tế, các dự án đầu tư càng rủi ro thì khả năng sinh lợi càng cao và ngược lại. Do đó, khi lãi suất tăng, khách hàng với dự án ít rủi ro sẽ không vay vì khả năng sinh lợi của dự án khó đủ để trả nợ. Vì vậy, nếu các tổ chức tín dụng tăng lãi suất thì chỉ có khách hàng rủi ro cao chấp nhận vay nên rủi ro của các tổ chức tín dụng sẽ tăng. Hiện tượng này được gọi là sự chọn lựa sai lầm, nghĩa là nếu tăng lãi suất thì các tổ chức tín dụng chỉ chọn được những người vay rủi ro hơn. Chọn lựa sai lầm sẽ làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng vì rủi ro cao hơn đồng nghĩa với xác suất trả nợ của khách hàng thấp đi. Bên cạnh đó, sự gia tăng của lãi suất cũng sẽ làm thay đổi cách lựa chọn dự án đầu tư của người vay. Lãi suất tăng sẽ gây ra thiệt hại nhiều hơn cho các dự án ít rủi ro nhưng có khả năng sinh lợi thấp so với các dự án rủi ro cao nhưng có khả năng sinh lợi cao vì với lãi suất cao các dự án có khả năng sinh lợi thấp dễ bị rơi vào tình trạng lỗ và phá sản. Do đó, sau khi vay vốn, người vay sẽ có xu hướng thực hiện các dự án rủi ro hơn nếu phải trả lãi suất cao hơn. Đây chính là động cơ lệch lạc của người vay. Hiện tượng này cũng làm tăng rủi ro và do đó làm giảm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng.

Chính vì hai lý do trên nên các tổ chức tín dụng chỉ tăng lãi suất khi khoản lợi nhuận tăng do lãi suất tăng vẫn còn lớn hơn khoản lợi nhuận giảm dưới ảnh hưởng của chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc và sau đó không cho vay thêm hay hạn chế tín dụng. Như vậy, để không phải hạn chế tín dụng, các tổ chức tín dụng phải tìm cách giảm thiểu rủi ro, nhưng điều này rất khó vì chi phí chọn lọc, kiểm soát và cưỡng chế khách hàng rất cao vì người dân nông thôn thường vay các khoản nhỏ mà lại sống rải rác trên một địa bàn nông thôn rộng lớn. Ngược lại, do gần gũi nên người cho vay phi chính thức rất hiểu người vay và vì vậy có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế trả nợ rất hiệu quả với chi phí thấp trong khi vẫn có thể duy trì lãi suất cao để thu lợi (Barslund và Tarp, 2008).