Nguyên nhân dẫn đến cái nghèo ở vùng miền núi

Thứ nhất,  do nhận thức và ý thức tự vươn lên thoát nghèo của người nghèo  vùng miền núi còn hạn chế.

Về nhận thức, người nghèo chưa ý thức được đầy đủ đối với quá trình thoát nghèo của bản thân và của gia đình.  Người nghèo chưa  có kế hoạch trong quá trình  sản xuất từ việc tiết kiệm, tích lũy, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Thậm chí ở nhiều nơi, người nghèo vẫn còn tư duy cho rằng việc GN là việc của Nhà nước, của chính quyền địa phương, của các cơ quan đoàn thể.

Thứ hai, do điều kiện tự nhiên và kinh tế không thuận lợi.

Vùng miền núi đất đai canh tác thì thường có ít, diện tích nhỏ, manh mún, độ màu mỡ kém, khó canh tác, do đó cây trồng cho năng suất thấp. Đây là khó khăn lớn nhất  đối với  các hộ sản xuất phụ thuộc chính vào nông nghiệp, nhất là các hộ thuần nông.  Do địa hình đồi núi không thuận tiện cho sản xuất, thường dốc cao, trong khi đó thì  rừng bị tàn phá, diện tích đất bị bỏ hoang, dễ bị xói mòn nên đất bạc màu nhanh. Để sử dụng đất có hiệu quả phải tăng đầu tư để cải tạo đất đai,… do vậy hiệu quả đầu tư thấp.

Bên cạnh đó, vùng miền núi có vị trí ở xa các trung tâm của huyện, của tỉnh nên điều kiện phát triển, giao lưu kinh tế bị hạn chế, địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt, khó xây dựng đường sá nên giao thông đi lại của dân cư khó khăn, có thể nói họ tách biệt tương  đối với bên ngoài, do đó khó phát triển kinh tế và tiếp cận với các dịch vụ công của Nhà nước.

Thêm vào đó, vùng miền núi điều kiện thời tiết không thuận lợi sản xuất, khí hậu    thì khắc nghiệt, nguồn nước tưới tiêu thiếu, nước sinh hoạt không đảm bảo yêu cầu về vệ sinh, bão lũ nhiều, cây trông khó phát triển, dẫn đến mất mùa và năng suất thấp,  trong khi đó thì nhà cửa dân sinh và kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ cho phát triển sản xuất kinh doanh, cho đời sống thì thiếu và yếu. Nhiều vùng đang trù  phú thì chỉ sau một cơn bão, lũ thì hàng trăm hộ không nghèo trở thành hộ nghèo.

Thứ ba, do thiếu kinh nghiệm làm ăn và thiếu vốn.

Trước hết, người nghèo ở vùng miền núi thường thiếu năng lực thị trường, khó thực hiện và xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, khả năng hoạch toán yếu, thậm  chí không có khả năng; không biết sản xuất theo quy luật  của  thị trường. Đây là  nguyên nhân quan trọng nhất quyết định khả năng có thể vượt qua cửa ải nghèo đói    của cá nhân, cộng đồng. Hầu hết họ có trình độ dân trí thấp, sự hiểu biết về thị trường yếu, ít được tiếp xúc với thông tin tích cực từ thị trường, như là các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Do trình độ canh tác lạc hậu nên năng suất lao động thấp, tích lũy không có, do đó sản xuất kinh doanh không phát triển và kém hiệu quả.

Vốn là một yếu tố rất quan trọng, thiếu hoặc không có vốn sẽ trở ngại lớn đối  với người nghèo nói chung và người nghèo ở vùng miền núi nói riêng khi tham gia vào kinh tế thị trường. Hiện nay, nhiều hộ nghèo ở vùng miền núi do thu nhập rất thấp nên thiếu vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Thực tế nhu cầu vay vốn của hộ nghèo thường lớn, lại có tính chất đột xuất và nhu cầu phi sản xuất không phù hợp với cơ chế cho vay của ngân hàng. Vì vậy, họ rất ít được đáp ứng nhu cầu về vốn, đây là một thực tế rất cay đắng trong cuộc sống của họ.

Thứ tư, do phong tục tập quán, ăn tiêu không hợp lý, lười lao động, gia đình có người mắc bệnh xã hội.

Người nghèo vùng miền núi thường có nhiều con, trong đó số con của họ dưới độ tuổi lao động còn nhiều, không có khả năng và điều kiện lao động, nên họ luôn nằm trong tình trạng “người làm thì ít, người ăn thì  nhiều”. Do chất lượng  nhân lực thấp,  thu nhập không thể trang trải được các nhu cầu hàng ngày, không có khả năng tích lũy, nên họ dễ rơi vào tình trạng nghèo đói kéo dài, khó thoát nghèo.

Lười biếng không chịu lao động và ăn tiêu không hợp lý đa phần nằm ở các đối tượng DTTS vùng miền núi. Ở một số gia đình nghèo, phần lớn phụ nữ phải đảm nhận công việc chính trong gia đình, cũng như các công việc bên ngoài, nuôi dạy con cái, trong lúc đàn ông thì lại không phải làm gì nhiều, nhưng lại ăn tiêu lãng phí.

Thêm vào đó, những thói quen, tập quán sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của vùng cao, đồng bào DTTS còn lạc hậu,  một số tệ nạn xã hội đang có xu hướng tăng   lên (cờ bạc, ma tuý…) làm xấu đi môi trường phát triển, dẫn đến nghèo đói ngày càng gia tăng.

Thứ năm, do hạn chế về kết cấu hạ tầng và ảnh hưởng bởi sự biệt lập về địa   bàn cư trú.

Nhiều năm qua, vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vùng miền núi hằng năm đều tăng. Tuy nhiên, do đặc điểm dân cư sinh sống rải rác, phần lớn địa bàn mà người nghèo, đồng bào DTTS sinh sống cách xa nhau, địa hình bị chia cắt phức tạp,… Do  vậy, việc đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh, cũng như tăng cường hệ thống cơ sở   hạ tầng nhằm giúp phát triển sản xuất cho người dân nói chung và người nghèo nói  riêng trở lên khó khăn, khó triển khai thực hiện. Trong khi đó, NSNN lại hạn hẹp, nên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vùng miền núi còn nhiều nan giải.

Tóm lại, qua nghiên cứu nghèo vùng miền núi, có thể khẳng định, GNBV vùng miền núi rất khó khăn do cơ sở hạ tầng kém phát triển, dân trí thấp, hộ đông con,  phong tục tập quan, thiếu nguồn lực…. Do vậy, để GNBV ở vùng núi cần phải kiên trì làm trong thời gian dài, tốn nhiều nguồn lực.