Nguyên nhân tồn tại và hạn chế thúc đẩy đầu tư chứng khoán ở Việt Nam

Thứ nhất, hệ thống khung pháp lý cho các hoạt động đầu tư chứng khoán còn thiếu và chưa đủ hiệu lực; Luật chứng khoán còn nhiều điểm bất cập cần bổ sung, sửa đổi; các văn bản hướng dẫn Luật còn chậm trễ ban hành, đôi lúc còn mâu thuẫn chồng chéo lẫn nhau gây khó khăn cho quá trình tham gia thị trường của doanh nghiệp; quá trình phối hợp của các cơ quan nhà nước còn có độ trễ, ảnh hưởng đến huy động vốn trên thị trường chứng khoán.

Thứ hai, thiếu cơ chế chính sách gắn kết đồng bộ các mảng thị trường. Sự thiếu hiệu quả của thị trường trái phiếu chính phủ đặc biệt là thị trường trái phiếu thứ cấp đã kìm hãm sự phát triển của thị trường vốn nói chung; thị trường trái phiếu vẫn chưa thể hiện rõ vai trò định hướng thị trường thông qua việc tạo lập đường cong lãi suất chuẩn.

Thứ ba, do tính chất đan xen của thị trường nên việc hạn chế phạm vi hoạt động các tổ chức tài chính trong phạm vi một phân đoạn thị trường sẽ không những kìm hãm sự phát triển của thị trường tài chính nói chung, gia tăng nguy cơ rủi ro đổ vỡ cả hệ thống. Các ngân hàng thương mại có xu thế tham gia vào thị trường chứng khoán, các tổ chức bảo hiểm cung cấp các sản phẩm liên kết với chứng khoán và các công cụ thị trường tiền tệ. Các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng tham gia hoạt động ngân hàng thông qua việc chứng khoán hóa các khoản tín dụng, các tổ chức tài chính lớn đều phát triển thành những tập đoàn tài chính đa năng.

Thứ tư, do Việt Nam còn thiếu một chiến lược tổng thể phát triển cả thị trường tài chính và thị trường chứng khoán; chưa có hệ thống pháp luật đồng bộ trong việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và công tác quản lý, giám sát và thanh kiểm tra còn hạn chế;

Thứ năm, chính sách cân bằng cung – cầu thị trường chứng khoán chưa hiệu quả. Trong thời gian qua, chính sách thúc đẩy đầu tư chứng khoán chưa có sự quan tâm đúng mức thúc đẩy sự gia tăng cầu trên thị trường chứng khoán. Tỷ trọng các nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư tổ chức còn hạn chế so với tiềm năng, đặc biệt là chiến lược phát triển khu vực các nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Thứ sáu, chính sách huy động nguồn lực đầu tư trên thị trường còn hạn chế và thiếu đồng bộ, đặc biệt là chính sách thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốn nhà rỗi trong các bộ phận dân cư như nguồn vốn kiều hối, nguồn tiết kiệm.