Nguyên tắc xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

1.Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị Luật Cạnh tranh cấm

 Theo Điều 9 Luật Cạnh tranh, có hai mức độ cấm đoán đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bằng cách phân chia thành hai nhóm thỏa thuận với hai mức độ cấm đoán khác nhau như trên đã cho thấy thái độ khá mềm dẻo của pháp luật khi xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, làm cho việc áp dụng Luật Cạnh tranh được linh hoạt theo sự phát triển của thị trường.

 1.1 . Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối

Các thỏa thuận bị cấm tuyệt đối gồm: thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; thông đồng để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

Những thỏa thuận được quy định tại khoản 6, 7, 8 Điều 8 Luật Cạnh tranh luôn hàm chứa tính chất hạn chế cạnh tranh mà không có bất cứ một cơ sở nào để có thể biện hộ về hiệu quả của chúng đối với thị trường. Nói cách khác, ba loại thỏa thuận này là những thỏa thuận luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh nên chỉ cần có đủ căn cứ để kết luận các doanh nghiệp đã thiết lập nên một trong ba thỏa thuận trên là có thể kết luận đã có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Với bản chất hạn chế cạnh tranh, các thỏa thuận này luôn cấu thành nên thỏa thuận phản cạnh tranh cho dù mục đích phản cạnh tranh chưa được thực hiện trong thực tế. Ví dụ, hành vi thông đồng trong đấu thầu, vốn tự nó đã là hạn chế cạnh tranh vì nó trái ngược với mục tiêu của các bên dự thầu đang tìm cách bán hàng hoá, dịch vụ với giá cả và các điều kiện khác một cách ưu đãi nhất. Vì thế, hành vi này luôn là bất hợp pháp theo pháp luật của các nước. Thậm chí những nước chưa có luật chống hành vi hạn chế cạnh tranh cũng đã đưa ra những quy định đặc biệt để điều chỉnh quan hệ giữa những người dự thầu. Hầu hết các nước đều xử lý hành vi thông đồng trong đấu thầu nặng hơn các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khác vì tính chất gian lận và hậu quả nghiêm trọng của nó đối với thị trường(UNCTAD, Luật mẫu về cạnh tranh (Hà Nội: sách dịch, 2003).). Thỏa thuận ngăn cản hoặc thỏa thuận loại bỏ đối thủ cạnh tranh là những thoả thuận vi phạm nghiêm trọng quyền tự do kinh doanh của người khác đã được Hiến pháp thừa nhận. Hậu quả của nó là làm thay đổi cơ cấu cạnh tranh hiện có đang hình thành trên thị trường để duy trì, củng cố vị trí của các doanh nghiệp tham gia liên kết.

 1.2. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên sẽ bị cấm

Các thỏa thuận sau: thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng, nếu các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.

Các thỏa thuận không thuộc ba trường hợp bị cấm tuyệt đối chỉ có thể bị cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan từ 30% trở lên. Thị phần là cơ sở để xác định khả năng chi phối của doanh nghiệp đối với thị trường. Theo Luật Cạnh tranh, mức thị phần trên thị trường liên quan từ 30% trở lên đã có thể trao cho  doanh nghiệp sức mạnh thị trường(Điều 11 Luật Cạnh tranh.), là khả năng tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua. Quyền lực thị trường sẽ trao cho doanh nghiệp khả năng tác động đến những yếu tố của thị trường theo hướng có lợi cho mình. Những doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp cho dù liên kết mà vẫn không thể có được mức thị phần thống lĩnh sẽ không bị coi là có sức mạnh thị trường. Trở lại với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp là sự kết hợp giữa những thế lực độc lập để tạo thành một sức mạnh tập thể hòng nâng cao khả năng kinh doanh và năng lực cạnh tranh chung. Sức mạnh mà các thỏa thuận đem lại cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố:

–  Nội dung của thỏa thuận;

–  Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia. Pháp luật không thể cấm đoán những thỏa thuận mà thị phần kết hợp của tất cả các chủ thể tham gia chưa đủ để tạo ra sức mạnh thị trường. Mức thị phần kết hợp được luật dự liệu đối với các thỏa thuận để tạo ra sức mạnh là từ 30% trên thị trường liên quan.

 Lý lẽ để bào chữa cho các thỏa thuận có mức thị phần dưới 30% trên thị trường liên quan là:

–                      Một, sức mạnh tập thể của nhóm doanh nghiệp này chưa đủ để chi phối thị trường liên quan, quyền lựa chọn của khách hàng vẫn chưa thể bị tước đoạt làm cho các thỏa thuận nói trên chưa đủ sức để làm hạn chế cạnh tranh;

–                      Hai, về mặt kinh tế, sự kết hợp cùng hành động giữa các doanh nghiệp góp phần tạo ra sức mạnh kinh doanh và sức cạnh tranh tập thể cho các thành viên của thỏa thuận. Sức mạnh đó đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp nhỏ trong môi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó các doanh nghiệp nhỏ luôn ở vào vị trí bất lợi, làm ăn khó khăn, thậm chí bị phá sản, là nguyên nhân hình thành các thế lực độc quyền của thị trường(OECD-WB, Khuôn khổ cho việc xây dựng và thực thi Luật và chính sách cạnh tranh (Hà Nội: sách dịch, 2004), tr 65.).

So với mức thị phần của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, mức thị phần của nhóm doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đủ để bị cấm đoán là thấp hơn. Nếu như hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh chỉ giới hạn trong nhóm doanh nghiệp có số lượng tối đa là 4, thì ở thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, số lượng này không bị giới hạn. Mặt khác, mức thị phần có thể bị cấm đoán cho nhóm doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thấp nhất là 50% (đối với 2 doanh nghiệp) thì với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, mức thị phần bị cấm đoán áp dụng chung là từ 30% trở lên. Điều đó cho thấy, pháp luật có thái độ nghiêm khắc hơn đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh so với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường. Sở dĩ có quy định trên là do trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh luôn tồn tại một sự liên kết có chủ ý để cùng thực hiện hành vi, tức là có sự thống nhất cùng hành động của nhóm doanh nghiệp. Điều đó đã tạo cho nhóm doanh nghiệp một sức mạnh chung như một chủ thể để chi phối thị trường. Khi đó, sự thỏa thuận đã tạo cho nhóm doanh nghiệp một tư cách duy nhất trong cạnh tranh trên thị trường. Sự riêng lẻ của các doanh nghiệp trong nhóm doanh nghiệp khi thực hiện hành vi lạm dụng đòi hỏi phải có một mức thị phần đủ lớn để thống lĩnh khác với trường hợp có thỏa thuận. Luật Cạnh tranh dự liệu mức tối thiểu là 50% và tối đa là 75% trên thị trường liên quan cho nhóm 2, 3 hoặc 4 doanh nghiệp đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.

 1.3 . Kinh nghiệm các nước về những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm

Pháp luật cạnh tranh của các nước cũng trong tình trạng tương tự. Pháp luật của Hoa Kỳ sử dụng nguyên tắc tự dạng (perse rule) đối với một số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Theo đó, Tòa án tối cao của Hoa Kỳ cho rằng: có một số thỏa thuận nhất định nguy hại đến cạnh tranh nên bị coi là bất hợp pháp mà không cần điều tra về những tác hại cụ thể mà chúng gây ra hoặc điều tra về lý do thực hiện thỏa thuận đó. Các thỏa thuận vi phạm nguyên tắc tự dạng bao gồm: thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường và khách hàng, thỏa thuận tẩy chay theo chiều ngang, thông đồng trong đấu thầu(OUNCTAD, sđd, tr 37.). Các thỏa thuận khác có thể được áp dụng theo nguyên tắc hợp lý (rule of reason). Liên minh châu Âu sử dụng khái niệm ngưỡng đáng kể để xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Ngay từ năm 1969, Tòa án công lý của Liên minh châu Âu đã chính thức đưa ra khái niệm này trong bản án Volk Vervaeke: một thỏa thuận phân phối độc quyền dù kèm theo sự bảo hộ tuyệt đối về mặt lãnh thổ vẫn có thể không bị cấm nếu các bên tham gia thỏa thuận chiếm vị trí không đáng kể trên thị trường(Tòa án công lý của Liên minh châu Âu, ngày 9/7/1969, Rec. 1969, 295.)… Pháp luật của các nước thành viên của  EU đã ứng dụng khái niệm này vào pháp luật cạnh tranh. Quá trình phát triển của pháp luật cạnh tranh tại Cộng hòa Pháp cho thấy, đã có những tranh luận về việc ứng dụng khái niệm ngưỡng đáng kể khi xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Đương nhiên kết quả của những tranh luận này là sự khác nhau trong đường lối xử lý các thỏa thuận. Tòa án tư pháp tối cao đã chính thức sử dụng khái niệm này trong các bản án ngày 4/5/1993, rocamat c/Sogepierre; bản án ngày 15/7/1992, bản tin chính thức về cạnh tranh, tiêu dùng và chống gian lận thường mại, ngày 15/8/1992. Trong khi đó, Hội đồng cạnh tranh Pháp vẫn cho rằng việc áp dụng ngưỡng đáng kể là trái với quy định tại điều L420-1 Bộ luật Thương mại bởi vì theo điều luật này thì chỉ cần thỏa thuận có mục đích phản cạnh tranh cũng đủ để kết luận thỏa thuận đó là phản cạnh tranh, cho dù mục đích phản cạnh tranh chưa được thực hiện trong thực tế(Dominique Brault, sđd, tr 201.  ). Hiện nay, Điều 24 Pháp lệnh số 2004-274 ngày 25/3/2004 đã bổ sung vào Bộ luật Thương mại một số quy định về việc áp dụng ngưỡng đáng kể cho việc xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Các quy định về ngưỡng đáng kể được xây dựng theo quan điểm cho rằng việc thỏa thuận có chưa một điều khoản hạn chế cạnh tranh chưa đủ để kết luận thỏa thuận đó vi phạm pháp luật cạnh tranh. Muốn kết luận có vi phạm còn phải chứng minh rằng hệ quả phản cạnh tranh cho dù chỉ là hệ quả tiềm năng phải đáng kể trên cơ sở có tính đền những đặc điểm cụ thể của thị trường, đặc biệt là cơ cấu và mức độ cạnh tranh trên thị trường đó, vị trí của các doanh nghiệp liên quan và những điều kiện thực hiện thỏa thuận đó. Như vậy, pháp luật của các nước đều có sự cân nhắc đến tác động thực tế của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để quyết định việc xử lý các doanh nghiệp tham gia. Có những thỏa thuận đương nhiên bị cấm mà không cần phải xem xét đến khả năng gây ra hậu quả thực tế. Nhưng cũng có những thỏa thuận cần xem xét đến khả năng hạn chế cạnh tranh. Hầu hết các nước đều sử dụng thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia để đánh giá về khả năng hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận. Sự khác nhau trong pháp luật của các nước chỉ là phạm vi thỏa thuận bị cấm tuyệt đối và thỏa thuận cần xem xét đến thị phần của doanh nghiệp tham gia.

2. Các trường hợp miễn trừ

 2.1  Cơ sở cho việc miễn trừ trách nhiệm cho các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Việc xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh luôn đòi hỏi Nhà nước cần cẩn trọng bởi thực tế và kinh nghiệm của các nước cho thấy không phải mọi thỏa thuận đều gây hại cho thị trường. Theo đó, các quy định về việc miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được xây dựng trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

a.   Quyền tự do kinh doanh
Tự do kinh doanh luôn bao hàm trong nó quyền được khế ước và lập hội. Các chủ thể tham gia thị trường hoàn toàn có quyền chủ động trong việc liên kết để thiết lập và thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình một cách hiệu quả. Công quyền và pháp luật không những không được can thiệp mà còn phải xây dựng các cơ chế bảo hộ cho những hoạt động nói trên.

Với tư cách là lực lượng bảo vệ công lý và lẽ phải, Nhà nước và pháp luật chỉ có thể can thiệp vào sự tự do khi hành vi của một nhóm người là nguy cơ đe doạ sự tự do, quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Khi sự liên kết của các doanh nghiệp tạo ra khả năng xâm hại lợi ích của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng và của thị trường, pháp luật cần có các biện pháp để ngăn chặn và trừng phạt.

b.   Sự cân xứng về các lợi ích mà pháp luật bảo vệ
Dưới góc độ tác động đối với cạnh tranh, các thỏa thuận luôn có tính hai mặt. Theo đó, ngoài những khả năng gây hại cho cạnh tranh, nhiều thỏa thuận không có khả năng gây hại, hoặc bên cạnh khả năng gây ra nhiều tác hại làm giảm cạnh tranh, nhiều thoả thuận còn đem lại nhiều tác dụng tích cực cho sự phát triển của thị trường. Vì vậy, pháp luật của các nước đều đòi hỏi người thực thi phải luôn cân nhắc và tính toán đến mọi khả năng có thể xảy ra để có thái độ trừng phạt hay cho phép thực thi các thỏa thuận trên thực tế. Có những trường hợp, cơ quan thực thi pháp luật cần xem xét sự cân xứng giữa lợi ích mà thỏa thuận đem lại với thiệt hại có thể gây ra cho thị trường để đưa ra quyết định cuối cùng về việc trừng phạt hay cho phép thỏa thuận.

Pháp luật của các nước sử dụng quy tắc hợp lý để đánh giá sơ bộ về tác động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm giới hạn phạm vi áp dụng của các quy định cấm. Quy tắc hợp lý cho phép loại bỏ việc áp dụng các quy định cấm đối với những thõa thuận vừa có hệ quả tích cực đối với cạnh tranh, vừa có hậu quả phản cạnh tranh nếu như hệ quả tích cực nhiều hơn hệ quả phản cạnh tranh(Dominique Brault, sđd, tr 206.). Do đó mục II chương III của Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, hoặc trong điều 81 (3) Hiệp ước Rome của Cộng đồng châu Âu quy định “những thỏa thuận bị cấm tại khoản 1 có thể được tuyên bố miễn áp dụng nếu thỏa thuận đó góp phần cải thiện sản xuất hay phân phối hàng hóa, hay khuyến khích ứng dụng tiến bộ kinh tế, kỹ thuật, trong khi cho phép người tiêu dùng hưởng lợi một cách tương ứng”. Luật cạnh tranh của nhiều nước như Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Liên bang Nga… đều cho phép trong những trường hợp cụ thể và trong một thời hạn nhất định như trong điều kiện suy thoái của nền kinh tế, nhu cầu hợp lý hoá sản xuất… các cartel có thể được pháp luật thừa nhận.  Có thể nói, những tính toán về mức độ cân xứng giữa lợi ích bị thỏa thuận xâm hại mà các lợi ích mà nó có khả năng đem lại là cơ sở kinh tế quan trọng để pháp luật và cơ chế thực thi xem xét công nhận hay loại trừ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Dưới góc độ của lý thuyết cạnh tranh, khả năng gây hại và tác dụng của thỏa thuận giữa các doanh nghiệp phản ánh mức độ hạn chế cạnh tranh của hành vi. Pháp luật và công quyền sẽ chỉ có thể lên án thỏa thuận nếu như có đủ cơ sở kinh tế để kết luận về khả năng gây hại đến lợi ích mà họ bảo vệ.

Tóm lại, là một sự liên kết trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể đươc phân tích, xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó pháp luật và công quyền có thái độ thích hợp. Bên cạnh những quy định cấm đoán và trừng phạt đối với các thỏa thuận có khả năng gây hại cho thị trường, pháp luật cạnh tranh của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận những trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có tác dụng tích cực đối với thị trường, đều được coi là hợp pháp. Tùy theo chính sách cạnh tranh của từng nước mà mức độ cấm đoán hoặc thừa nhận tính hợp pháp của các thỏa thuận trong pháp luật cạnh tranh sẽ khác nhau.

 2.2. Những trường hợp được miễn trừ (Điều 10 Luật Cạnh tranh.)

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, những thỏa thuận sau đây được xếp vào đối tượng có thể được hưởng miễn trừ:

–  Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;

–  Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;  – Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ;

–  Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

–  Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

Các thỏa thuận nói trên sẽ được hưởng miễn trừ nếu như chúng được thực hiện nhằm hạ giá thành và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng bằng các chiến lược sau đây:

 Một là, chiến lược liên doanh và hợp tác phát triển.

Thực tế đã cho chúng ta thấy, là đối thủ cạnh tranh của nhau, các doanh nghiệp đôi khi còn liên kết lại để có thể cạnh tranh tốt hơn trên thị trường bằng cách hợp tác, hỗ trợ nhau để nâng cao khả năng kinh doanh trên thương trường. Sự bổ trợ để phát huy thế mạnh và hạn chế những yếu điểm của từng thành viên tham gia thỏa thuận sẽ đem lại hiệu quả cho sự phát triển của từng doanh nghiệp và cho cả thị trường liên quan. Điều đó có thể thấy rõ thông qua chiến lược liên doanh và hợp tác của các doanh nghiệp.  Chiến lược liên doanh và hợp tác phát triển giữa các doanh nghiệp được thực hiện để nhằm:

–  Hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh;  – Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ.  Có thể minh họa chiến lược này bằng các trường hợp sau: trường hợp 1, hai doanh nghiệp cùng cạnh tranh trên thị trường, trong đó một doanh nghiệp có chất lượng sản phẩm tốt nhưng mạng lưới phân phối kém có thể phối hợp với doanh nghiệp có sản phẩm với chất lượng trung bình nhưng lại có mạng lưới phân phối hiệu quả. Sự liên kết này giúp cho hiệu quả hoạt động của hai doanh nghiệp tốt hơn và đem lại hiệu quả cho người tiêu dùng trong việc hưởng thụ sản phẩm với chất lượng đảm bảo yêu cầu. Trường hợp 2, các doanh nghiệp có thể hợp tác phát triển và thực hiện các công trình nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật có liên quan mà nếu như làm một mình sẽ không đạt được kết quả mong muốn. Trường hợp này thường xảy ra với những ngành kinh tế kỹ thuật đòi hỏi công nghệ có trình độ cao như chế tạo máy bay, khoa học viễn thông….

Hai là, chiến lược xây dựng các tiêu chuẩn chung về sản phẩm và các điều kiện kinh doanh.  Các thỏa thuận nằm trong chiến lược chuẩn hoá những yêu cầu về sản phẩm và các điều kiện kinh doanh thường bao gồm hai nội dung là:

–                      Thỏa thuận giữa các doanh nghiệp nhằm thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm;

–                      Thỏa thuận thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá.

Dưới góc độ kinh tế, các thỏa thuận về việc đặt ra các tiêu chuẩn nói trên nhìn chung là có lợi cho người tiêu dùng và có thể làm cho thị trường hoạt động một cách có hiệu quả hơn nếu như những tiêu chuẩn đó là tiến bộ và phản ánh sự đi lên trong công nghệ, kỹ thuật, chất lượng và trình độ kinh doanh. Mặc dù lý thuyết về cạnh tranh đều cho thấy rằng, các tiêu chuẩn về chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm hoặc các điều kiện kinh doanh có thể làm hạn chế cạnh tranh giữa những người tham gia thỏa thuận, có thể làm cho các doanh nghiệp không đáp ứng đủ những tiêu chuẩn đó phải rời khỏi thị trường, thậm chí còn có thể sinh ra những rào cản cho sự gia nhập đối với những doanh nghiệp tiềm năng. Song các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế lại cho rằng, các thỏa thuận đặt ra tiêu chuẩn cho sản phẩm và cho hoạt động kinh doanh đem lại lợi ích nhiều hơn so với thiệt hại mà chúng gây ra vì làm giảm cạnh tranh(UNCTAD, sđđ, tr 82-83.). Điều đó được thể hiện ở hai góc độ: Đầu tiên là việc đặt ra các tiêu chuẩn cho sản phẩm sẽ có lợi ích rất nhiều cho xã hội nếu các tiêu chuẩn này là tích cực và tiến bộ. Bởi thị trường sẽ có được một mặt bằng về sản phẩm đủ chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và sẽ loại bỏ được những sản phẩm kém chất lượng trên thị trường. Mặt khác, nó còn giúp cho người tiêu dùng có thêm nhiều thông tin để đưa ra các quyết định chính xác hơn về sản phẩm mà họ dự định mua. Đặc biệt, những thỏa thuận về tiêu chuẩn liên quan đến sức khoẻ và an toàn sẽ bảo vệ người tiêu dùng trước các toan tính gian dối về chất lượng sản phẩm của những nhà kinh doanh bất chính. Ngoài ra, các tiêu chuẩn về sản phẩm còn có ý nghĩa là động lực thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng hiệu quả tiến bộ kỹ thuật vào đời sống kinh doanh. Tiếp đó, việc thống nhất các điều kiện kinh doanh, thanh toán giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường có ý nghĩa trong việc cải tiến trình độ quản lý kinh doanh của họ, đặc biệt với những lĩnh vực hoặc ngành nghề đang trong giai đoạn hình thành và phát triển. Sự thống nhất các điều kiện kinh doanh và thanh toán có thể tạo ra những chuẩn mực trong kinh doanh của ngành nghề để từ đó hình thành nên các tập quán tốt đẹp cho hoạt động sản xuất, mua bán trên thị trường đó, đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp và cho khách hàng của họ. Tuy nhiên, để những thỏa thuận thống nhất về điều kiện thương mại được pháp luật cạnh tranh thừa nhận thì chúng không được hủy hoại cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh về giá và các yếu tố của giá. Điều đó có nghĩa là, các doanh nghiệp khi thiết lập và thực hiện thỏa thuận vẫn còn là đối thủ cạnh tranh của nhau về giá, về các yếu tố của giá….

Ba là, chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh

Chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh được Luật Cạnh tranh dự liệu theo hai tiêu chí:

–  Các thỏa thuận nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Hiện nay ở nước ta, có hơn 90% trên tổng số doanh nghiệp đang họat động là doanh nghiệp vừa và nhỏ, mức vốn đầu tư trung bình mặc dù có sự tăng lên theo từng thời kỳ nhưng nhìn chung vẫn còn thấp. Theo báo cáo đánh giá tình hình thi hành luật doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mức vốn đăng ký trung bình của một doanh nghiệp trong thời kỳ 1991 – 1999 là 0,57 tỷ đồng, năm 2000 là 0,96 tỷ đồng, năm 2001 là 1,3 tỷ, 7 tháng đầu năm 2003 là 2,12 tỷ đồng. Với số vốn như vậy, khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và thậm chí cả thị trường trong nước gặp nhiều khó khăn do quy mô nhỏ, vốn thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, kỹ năng quản lý yếu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc gia đình, thiếu thông tin thị trường…. Dẫn đến chất lượng sản phẩm thường thấp hơn so với các hàng hoá nhập khẩu(Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo đánh giá tình hình thi hành luật doanh nghiệp 1999, (Hà Nội: 2003), tr 2,3,6.).

Đánh giá về việc thực hiện chiến lược kinh tế xã hội 1991 – 2000, Đại hội Đảng lần IX thẳng thắn thừa nhận điểm yếu kém bất cập đầu tiên là nền kinh tế kém hiệu qủa và khả năng cạnh tranh thấp, trong đó tình trạng bao cấp và bảo hộ còn nặng(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia, 2001), tr 183.). Với điều kiện đó, nhiệm vụ nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là chìa khóa cho việc củng cố và phát triển năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong các cuộc tranh luận nên hay không nên bảo hộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những ý kiến cho rằng ích lợi mà người tiêu dùng (đại diện cho thị trường) là chuẩn mực phán xét hiệu quả của Luật Cạnh tranh, nên không cần phải trao cho đạo luật này nhiệm vụ bảo hộ các doanh nghiệp nói trên. Quan điểm này còn dựa vào lập luận rằng, cạnh tranh tự nó đã có cơ chế thưởng phạt. Pháp luật chỉ nên can thiệp khi nhà kinh doanh nào đó có ý định làm biến dạng cơ chế thưởng phạt tự nhiên trong thị trường cạnh tranh mà thôi. Bình luận về quan điểm trên, chúng ta nên xuất phát từ ý tưởng được đưa ra là pháp luật cạnh tranh và giới hạn của nó phụ thuộc vào quan niệm về chính sách cạnh tranh của mỗi quốc gia mà chính sách cạnh tranh lại là bộ phận không tách rời của chính sách phát triển kinh tế. Ở Việt Nam, với quan điểm và nhu cầu xây dựng một nền kinh tế “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vừng, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh và có hiệu quả những sản phẩm, ngành, lĩnh vực mà nước ta có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước”(Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr 162), thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp là cần thiết để tạo nên nội lực cho sự phát triển chung của thị trường. Trong đó việc giành những quy chế hỗ trợ phát triển cho doanh nghiệp vừa và nhỏ là cần thiết. Vì lẽ đó, với các thỏa thuận hướng đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn được Nhà nước quan tâm thừa nhận và tạo điều kiện cho chúng thực hiện hiệu quả.

– Các thỏa thuận nhằm tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế

Theo cuốn Từ điển chính sách thương mại quốc tế, cartel công cộng là một loại thỏa thuận trong đó Chính phủ tạo điều kiện cho việc thiết lập và điều tiết các quy tắc thị trường vì các lý do chính sách rộng lớn hơn, bao gồm việc chấp nhận các cartel xuất khẩu nhằm tăng cường sức cạnh tranh cho các hãng trong nước(Walter Goode, sđd, tr 47.). Trong pháp luật của nhiều nước, nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nội địa trong bối cảnh xây dựng và phát triển thị trường chung khu vực và quốc tế là cần thiết. Ngay ở Hoa Kỳ, người ta có thể tìm thấy các quy định về cho phép thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện nếu nó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa của họ ở nước ngoài trong đạo luật Webb – Pomerene. Có thể thấy rằng, việc thừa nhận các thỏa thuận có mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa trên thị trường quốc tế đã được chính sách thương mại quốc tế và kinh nghiệm pháp lý của nhiều nước thừa nhận.

Để trở thành một thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế như ASEAN, APEC và WTO, trước hết Việt Nam đã cam kết cải cách từng bước hệ thống chính sách và pháp luật vì mục đích tự do thương mại. Toàn cầu hoá đã bộc lộ những mặt khó chịu của nó đối với nước nghèo, những quốc gia chưa kịp cải cách đã phải chấp nhận những luật chơi quốc tế phần lớn do những nước phương Tây đặt ra. Muốn giành lợi thế so sánh, không còn con đường nào khác là buộc phải chủ động tiếp thu những chuẩn mực của pháp luật thương mại quốc tế đã được thừa nhận. Trong đó, pháp luật phải chuyển từ “công cụ quản lý kinh tế Nhà nước sang một trật tự bảo vệ tự do sở hữu, tự do khế ước và bảo vệ môi trường cạnh tranh toàn cầu”(Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật kinh tế (Hà Nội: NXB đại học quốc gia, 2004), tr 72). Trên tinh thần ấy, bên cạnh việc tạo lập các biện pháp bảo vệ cho sản xuất nội địa như một yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập, còn cần phải nỗ lực xây dựng và phát triển nội lực. Vì vậy mà mọi nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc nâng cao khả năng kinh doanh, khả năng cạnh tranh khi tham gia vào thị trường quốc tế cần được Nhà nước và pháp luật thừa nhận nếu những nỗ lực đó không gây hại cho nền kinh tế nội địa và không vi phạm pháp luật, tập quán của thương mại quốc tế. Có như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế mới có khả năng thực hiện hiệu qủa.

Để các trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc diện có thể được miễn trừ phải thực hiện thủ tục xin được hưởng miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh.