Nguyên tắc xử lý đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh

Nguyên tắc xử lý đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh

 Luật Cạnh tranh áp dụng nguyên tắc cấm tuyệt đối đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh. Theo đó:

–                      Cơ quan có thẩm quyền chỉ cần chứng minh hai điều kiện sau đây là có thể xử lý doanh nghiệp bị điều tra trong vụ việc về hành vi lạm dụng:

+ Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền.

+ Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra đã thực hiện một trong các hành vi hạn chế cạnh tranh quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật Cạnh tranh. Về điều kiện này, Luật Cạnh tranh liệt kê gần như đầy đủ các dạng lạm dụng phổ biến theo kinh nghiệm của các nước và dựa trên dự báo tình hình cạnh tranh của thị trường Việt Nam trong tương lai. Chúng ta có thể tìm thấy các quy định về hành vi lạm dụng: liên quan đến giá sản phẩm như định giá hủy diệt, định giá bóc lột, định giá bán lại; chiến lược lạm dụng theo chiều dọc như thiết lập mạng lưới phân phối độc quyền, phân biệt đối xử…; chiến lược ngăn cản đối thủ tiềm năng…. Với diện phủ sóng rộng và bao quát như trên, khả năng điều chỉnh của Luật sẽ rất lớn, bao gồm mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, mọi doanh nghiệp có quyền lực thị trường kể cả các doanh nghiệp độc quyền tự nhiên hay độc quyền Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa cho phép cơ quan có thẩm quyền xử lý những hành vi gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh mà Luật Cạnh tranh chưa quy định. Do đó, căn cứ pháp lý để kết luận về việc thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ chỉ là những quy định của Luật Cạnh tranh. Trong hệ thống pháp luật hiện hành, có một số văn bản pháp luật ghi nhận về hành vi hạn chế cạnh tranh của các tập đoàn kinh tế độc quyền hoặc thống lĩnh như pháp luật về điện lực, pháp luật về bưu chính viễn thông, pháp luật về hàng không…. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 5 Luật Cạnh tranh lại đặt ra một nguyên tắc trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với các quy định của luật khác về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật này. Như vậy, nếu có sự tương đồng về số lượng hành vi và dấu hiệu pháp lý của từng hành vi giữa Luật Cạnh tranh và các văn bản pháp luật kể trên thì không phát sinh những tranh cãi về việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, nếu các văn bản pháp luật trên quy định về một, mối số hành vi hạn chế cạnh tranh mà Luật Cạnh tranh không quy định và ngược lại hoặc có sự khác nhau về dấu hiệu pháp lý của hành vi thì giải pháp được lựa chọn phải là áp dụng Luật Cạnh tranh.

–                      Không áp dụng cơ chế loại trừ đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền thị trường để hạn chế cạnh tranh. Đây là điểm khác biệt về mặt kỹ thuật lập pháp của Việt Nam so với Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển liên hiệp quốc cũng như Luật về kiểm soát độc quyền của nhiều nước khác. Trong pháp luật cạnh tranh của nhiều quốc gia, và trong Luật mẫu về cạnh tranh đều đưa ra các trường hợp được miễn trừ trách nhiệm, ví dụ Mục III Chương IV Luật mẫu cạnh tranh cho phép miễn trừ đối với các hành vi lạm dụng nếu doanh nghiệp thông báo với cơ quan có thẩm quyền trước khi thực hiện, và cơ quan này thấy hành vi phù hợp với mục tiêu của Luật đã đề ra; Điều 61.1 Luật Cạnh tranh Canađa quy định các trường hợp ngoại lệ được miễn trừ trách nhiệm khi thực hiện hành vi định giá bán lại… Các nhà làm luật của những nước nói trên lập luận rằng hành vi lạm dụng ở những tình huống cụ thể nào đó là phù hợp với sự phát triển của đời sống kinh doanh, rằng các doanh nghiệp có quyền bảo vệ lợi ích của mình nếu điều đó không xâm hại đến quyền tự do kinh doanh và lợi ích chính đáng của bất cứ ai. Cách thức mà Luật Cạnh tranh của chúng ta đưa ra cho thấy thái độ nghiêm khắc của nhà làm luật đối với hành vi lạm dụng(Đối với tập trung kinh tế và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Luật Cạnh tranh năm 2004 vẫn quy định các trường hợp miễn trừ.).  Tuy nhiên, một vấn đề khó khăn sẽ đặt ra cho pháp luật và cho cơ chế thực thi là, pháp luật sẽ phải chi tiết hơn trong việc quy định về hành vi theo hướng sau đây:

–                      Phải đưa ra được những căn cứ xác định hành vi chi tiết hơn để không quy trách nhiệm oan cho những trường hợp về hình thức là vi phạm nhưng về bản chất là có thể chấp nhận được (ví dụ các hành vi ấn định giá mua trong các trường hợp thị trường có biến động);

–                      Phải lượng hoá các căn cứ đó bằng những dấu hiệu khách quan để trách sự tùy tiện trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan chức năng. Vì lẽ đó mà các căn cứ nhận dạng hành vi theo Luật Cạnh tranh có vẻ phức tạp hơn so với những quy định tương ứng trong pháp luật của các quốc gia khác như Canađa, Hoa Kỳ, Hàn Quốc.v.v.

Ngoài ra, theo Luật Cạnh tranh năm 2004 và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, trong những cơ sở nhận dạng hành vi lạm dụng có những căn cứ đã được lượng hoá như giá thành toàn bộ đã được lượng hoá bằng các chi phí cụ thể, sự bất hợp lý của giá bóc lột v.v. cũng có một số những quy định chưa rõ hoặc còn là định tính, ví dụ như khả năng gây thiệt hại cho khách hàng của hành vi định giá bán lại tối thiểu, mức độ phân biệt đối xử trong các điều kiện thương mại giữa các khách hàng, khả năng ngăn cản đối thủ cạnh tranh mới của mức giá bán hàng hoá thấp, xác định tính chất không liên quan đến đối tượng của hợp đồng trong các điều kiện thương mại hay nghĩa vụ bị áp đặt v.v. Những tồn tại nói trên có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả áp dụng pháp luật nếu chúng không được làm rõ trong các văn bản pháp luật. Mặt khác, việc điều tra thu thập thông tin và phân tích thông tin để kết luận về hành vi vi phạm đòi hỏi phải được thực hiện bằng các biện pháp chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật cụ thể tùy theo từng vụ việc. Mặt khác, sự vận động không ngừng của các quan hệ và các yếu tố kinh tế của thị trường, làm cho những thông số kinh tế- kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh thường xuyên thay đổi, co dãn. Vì thế, việc thực thi pháp luật cạnh tranh đối với những vụ việc về hành vi lạm dụng, đòi hỏi cơ quan thực thi và cán bộ có thẩm quyền phải có trình độ, kinh nghiệm và năng động, nhằm làm cho pháp luật phát huy hiệu quả trong cuộc sống.