Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho ngành thủ công mỹ nghệ mây tre lá phát triển

Các chính sách của Nhà nước trong những năm gần đây đã hỗ trợ tích cực  cho việc phát triển của ngành nghề nông thôn nói chung và hàng TCMN mây tre lá nói riêng, tuy nhiên việc tiếp cận nguồn vốn của các DN vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Để hỗ trợ một cách ổn định cho DN, bên cạnh các chính sách về nguyên liệu đã được phê duyệt gần đây, Nhà nước cần  cân nhắc một số chính sách bổ sung sau đây:

Cụ thể hóa chính sách đào tạo nghề trong đó đề cao vai trò của các Hiệp hội chuyên ngành trong việc thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 về đào  tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Mạnh dạn giao Hiệp hội triển khai công  tác đào tạo lao động theo hướng chất lượng cao cho các hội viên.

Trên cơ sở phân tích nghiên cứu KH&CN cho SX hàng thủ công truyền thống ở các quốc gia đang phát triển trên thế giới, chúng ta cần cân nhắc khả năng vận dụng cơ hội mà Việt Nam có được để xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư công nghệ, đa dạng các  thiết bị SX và trên cơ sở đó đa dạng các sản phẩm TCMN mây tre lá của Việt Nam sao cho đáp ứng được yêu cầu bảo vệ MT.

Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển thiết kế và phát triển SP thủ công của Việt Nam. Nhà nước và các hiệp hội ngành nghề thủ công cần tiến hành xây dựng Trung tâm thiết kế và phát triển sản phẩm TCMN quốc gia. Đây là đầu mối khởi điểm quốc gia phối hợp với các trường đào tạo thiết kế, các tổ chức cá nhân hoạt động về thiết kế trong và  ngoài nước, các doanh nghiệp XK… nhằm tạo thêm giá trị gia tăng cho SP thủ công của  Việt Nam.

Sử dụng từ nguồn ngân sách phát triển của nhà nước xây dựng chính sách tín dụng ưu đãi cho ngành TCMN, xây dựng chính sách phát triển thương hiệu cho ngành trong chương trình thương hiệu quốc gia, xây dựng bộ tiêu chuẩn phẩm cấp chất lượng của  ngành, thực hiện theo đề án: “Chương trình quốc gia mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030 (OVOP, OCOP hoặc OTOP) để quảng  bá  và  khuyến khích Hiệp hội chuyên ngành quản lý các nguồn vốn theo các quy định tín dụng   của Nhà nước.

Về chính sách thuế, hỗ trợ vay vốn và cơ chế quản lý chất lượng vệ sinh an toàn trong SX kinh doanh.

Để thực  hiện có hiệu quả giải pháp thuế, UBND tỉnh tại các làng nghề cần vận dụng  quy định của Trung ương hoặc xin chủ trương của Chính phủ về cơ chế để  ban hành chính sách hỗ trợ một phần lãi suất cho các hộ gia đình vay vốn phục vụ hoạt động chế biến hàng TCMN mây tre lá và vận động các tổ chức đoàn thể như  Hội  phụ nữ, Đoàn thanh niên,…  tham gia thực hiện các chương trình cấp tín dụng ưu đãi đối với các hộ gia đình SX-chế biến gặp khó khăn về vốn thông qua vốn viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ hoặc  vốn đóng   góp của các thành viên trong các tổ chức XH, đoàn thể.

Các quy định và chính sách liên quan đến thuế có tác động rất lớn đến hoạt động   SX, chế biến của DN, hộ gia đình. Vì vậy, UBND tỉnh tại các làng nghề xem xét, ban hành chính sách ưu đãi về thuế phù hợp với quy định của pháp luật đối với những địa bàn khó khăn theo tinh thần Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 và Nghị định

52/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/06/2018 về chính sách khuyến khích DN đầu tư  vào nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, cần quan tâm chỉ đạo ngành thuế hướng dẫn và thực  hiện tốt các chính sách miễn, giảm thuế đối với các DN thuộc đối tượng ưu đãi khi DN đầu tư dự án đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại phục vụ SX.

Để thực hiện quản lý chất lượng vệ sinh trong SX có hiệu quả, UBND tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy định về tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm đối với cơ sở chế biến và hộ SX trên địa bàn, đảm bảo phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và khả năng đáp ứng hiện tại để làm cơ sở pháp lý cho chính quyền địa phương thực hiện việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đối với các hộ có quy trình chế biến đạt yêu cầu vệ sinh và công   bố công khai các hộ gia đình chế biến không đạt chuẩn về điều kiện vệ sinh an toàn. Bên cạnh đó, tỉnh cần xem xét, thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra điều kiện    SX cũng như vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của DN và các các hộ gia đình, nhằm kịp thời phát hiện những hạn chế để uốn nắn và xử lý nghiêm các trường hợp vi   phạm theo quy định.