Nhận xét chung về chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam

Chính sách phát triển các thành phần kinh tế nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng được khẳng định vững vàng hơn. Chủ trương xã hội hóa đầu tư được thực hiện trong nhiều lĩnh vực dịch vụ công. Xã hội hóa ở nước ta lúc đầu chủ yếu ở ngành giáo dục đào tạo, y tế về sau mở rộng lĩnh vực kết cấu hạ tầng như nhà máy điện, hạ tầng giao thông đường bộ. Đến nay, ngoài nguồn lực của Nhà nước cấp, đã và đang mở rộng sự tham gia của toàn xã hội vào lĩnh vực hạ tầng đường bộ. Nguồn vốn ODA chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đó đến nguồn vốn tư nhân, nguồn đóng góp tự nguyện của nhân dân vào KCHTGT nông thôn, nguồn trái phiếu chính phủ, nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại.

Trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, Việt Nam xác định việc huy động vốn từ khu vực tư nhân là hết sức cần thiết trong những năm tiếp theo. Cơ chế chính sách về hình thức đối tác công tư trong thời gian vừa qua cơ bản đã được chính phủ rà soát, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và với thông lệ quốc tế. Thu hút khu vực tư nhân đầu tư theo hình thức PPP có nhiều ưu việt cần áp dụng không chỉ đối với lĩnh vực phát triển KCHTGTĐB mà còn ở nhiều lĩnh vực khác ở nước ta trong thời gian tới. Nguồn vốn tư nhân đang trở thành kỳ vọng mang tính đột phá trong huy động vốn cho phát triển kinh tế- xã hội.

Tuy nhiên, chính sách, pháp luật về đầu tư theo hình thức PPP trong lĩnh vực KCHTGTĐB còn một số hạn chế sau:

Hình thức thức đối tác công tư được điều chỉnh bởi rất nhiều luật, nghị định, thông tư. Một số nội dung quy định khi áp dụng vào thực tiễn nước ta khó khả thi như nội dung đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dựa trên tổng mức đầu tư, quản lý chất lượng công trình. Nghị định số 15/2015/NĐ-CP là nghị định duy nhất điều chỉnh hình thức đầu tư này được xây dựng trên cơ sở nhiều Luật. Nghị định này khá phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng do hiệu lực pháp lý không cao so với các luật liên quan nên còn nhiều vướng mắc trong thực tế khi thực

Văn bản quy phạm pháp luật quy định về PPP ở nước ta hiện nay mới ở mức nghị định của Chính phủ. Thiếu khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, thống nhất điều chỉnh hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT và PPP. Hành lang pháp lý về PPP vẫn còn phụ thuộc nhiều luật chuyên ngành trong suốt vòng đời một dự án PPP từ bước chuẩn bị đến triển khai đầu tư và vận hành, khai thác dự án trong khi những văn bản này chủ yếu được xây dựng để điều chỉnh hoạt động đầu tư công hoặc đầu tư tư nhân là chủ yếu. Một trong những vấn đề cốt lõi là quy định về hình thức đối tác công tư mới dừng lại mức nghị định nên tính ổn định của chính sách không cao.

Mặc dù Chính Phủ liên tục có sự điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy định, quy chế thực hiện PPP, nhưng việc sửa đổi chưa được thực hiện kịp thời. Hạn chế này xuất phát từ các Luật của Việt Nam khi xây dựng phần lớn đều tiếp cận theo hướng điều chỉnh các hoạt động đầu tư công hoặc đầu tư tư nhân là chủ yếu mà chưa xét đến đặc thù đầu tư hợp tác công tư, nên một số nội dung còn bất cập. Hình thức đầu tư PPP phức tạp hơn đầu tư công truyền thống. Việc sửa đổi một số nội dung bất cập của các luật liên quan đòi hỏi mất nhiều thời gian nên trên thực tế quá trình ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định thường chưa kịp thời nên quá trình triển khai gặp nhiều khó khăn.

Do khung pháp lý chưa hoàn thiện, nhiều nội dung vượt thẩm quyền các bộ, ngành nên quá trình triển khai gặp rất nhiều khó khăn. Sự vận dụng các văn bản quy phạm pháp luật đối với hình thức đầu tư PPP có những khác biệt, việc xác định trách nhiệm của các chủ thể tham gia dự án cũng khác nhau. Những dự án triển khai trước năm 2010, các chủ thể đều không có kinh nghiệm về pháp lý hợp đồng, các quy định pháp luật còn bất cập nên các chế tài xử lý vi phạm đối với nhà đầu tư còn hạn chế, chưa đủ quyết liệt để giải quyết triệt để vấn đề.