Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng hoạt động của công ty hợp danh hiện nay ở Việt Nam

Qui chế pháp lý về thành lập và hoạt động của công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp 12/6/1999 đã đánh dấu sự phát triển mới của Luật Doanh nghiệp, đáp ứng được yêu cầu thực tế của nền kinh tế, trong giai đoạn đất nước mở rộng hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực đặc biệt là về kinh tế, đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Loại hình doanh nghiệp mới ra đời đã tạo nhiều hơn nữa cho sự lựa chọn của các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm và trình độ quản lý cuả các nước phát triển.
So sánh công ty hợp danh với các loại hình doanh nghiệp khác ta thấy một số ưu điểm sau:

Thứ nhất, so với doanh nghiệp tư nhân thì công ty hợp danh có khả năng huy động vốn lớn hơn bởi công ty hợp danh là sự kết hợp hai thành viên hợp danh trở lên ngoài ra còn có thể có thành viên góp vốn trong khi đó doanh nghiệp tư nhân chỉ có một cá nhân thành lập doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh. Như vậy, công ty hợp danh có thể mở rộng qui mô kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường là hơn hẳn doanh nghiệp tư nhân.

(Điểm giống nhau ở hai loại hình doanh nghiệp naỳ là chúng đều không có tư cách pháp nhân bởi tài sản của thành viên không có sự tách biệt rõ ràng với tài sản của công ty).

Thứ hai là so với các loại hình doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần,… điểm giống của công ty hợp danh với các loại hình doanh nghiệp trên là việc thành lập doanh nghiệp dựa trên cơ sở liên minh, hợp tác giữa nhiều thành viên cùng tiến hành hoạt động kinh doanh.

Sự khác nhau giữa chúng là công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân tức là việc thành lập dựa trên cơ sở quan hệ thân thích là chính, vốn là yếu tố phụ, còn các doanh nghiệp kể trên thuộc loại hình doanh nghiệp đối vốn tức là việc thành lập dựa trên cơ sở góp vốn giữa các thành viên, vấn đề quan hệ là thứ yếu. Công ty hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty , còn các loại hình doanh nghiệp kể trên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp vào công ty. Như vậy, về lý thuyết thì khả năng thực hiện nghĩa vụ của công ty hợp danh là tốt hơn các doanh nghiệp khác, tạo ra được uy tín, tín nhiệm cao hơn trong hoạt động kinh doanh.

Thứ ba là so với các qui chế pháp lý về loại hình công ty hợp danh, ở một số nước phát triển ta thấy tương đối giống tuy nhiên còn có một số điểm khác như: việc một số nước qui định bắt buộc phải thành lập công ty hợp danh đối với một ngành nghề đòi hỏi trách nhiệm cao như luật sư, y tế, kiểm toán… còn ở nước ta không có những qui định bắt buộc này.

Thứ tư công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân, việc thành lập dựa trên cơ sở quan hệ thân thích là chủ yếu, phần vốn góp là thứ yếu. Như vậy đối với Việt Nam, đất nước mang đậm tập quán phương đông, coi trọng tình nghĩa thì việc loại hình doanh nghiệp này có thể rất phát triển trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay loại hình doanh nghiệp này còn rất ít ở nước ta có thể do đây là loại hình doanh nghiệp mới, còn ít người biết đến. Vấn đề thực trạng hoạt động của số ít loại hình doanh nghiệp này như thế nào thì ở đây chưa thể đưa ra câu trả lời chính xác.