Nhiệm vụ, nội dung về thời kỳ quá độ lên CNXH đặc điểm thực chất nền quá độ ở nước ta

Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường XHCN điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế xã hội; phải xây dựnh một nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại,khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Muốn vậy trong thời kỳ quá độ chúng ta cần phải thực hiện những nhiệm vụ kinh tế cơ bản sau:

1.Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Nhiệm vụ này được coi là trung tâm, xuyên suốt của cả thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất.

– Phát triển lực lượng lao động xã hội:
Vì con người lao động là lực lượng sản xuất cơ bản, nên trong lao động con người có khả năng sử dụng và quản lý nền sản xuất xã hội hoá cao, với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Bởi vậy : “Muốn xây dựng chụ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”1.

– Phát triện công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trinhf chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động kinh tế -xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang việc sử dụng một cách phổ biến sức lao động với khoa học và công nghệ hiện đại,tiên tiến, tạo ra năng xuất lao động cao.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ có tính quy luật của con đường quá độ đi lên CNXH ở những nước kinh tế lạc hậu, chủ nghĩa tư bản chưa phát triển. Tuy nhiên , chiến lược, nội dung, hình thức, bước đi, tốc độ, biện pháp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mỗi nước phải được xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước và từ bối cảnh quốc tế trong mỗi thời kỳ.
Chỉ có hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước mới có thể xây dựng được cơ sở vật chất- kỹ thuật cho xã hội mới, nâng cao năng xuất lao động đến mức chưa từng có để làm cho tình trạng rồi dào sản phẩm trở thành phổ biến.

2. Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN.

Phải xây dựng từng bước những quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượnh sản xuất mới. Nhưng việc xây dựng quan hệ sản xuất mới không thể thực hiện theo ý muốn chủ quan duy ý chí mà phải tuân theo những quy luật khách quan về mối quan hệ giữu lực lượng xản xuất và quan hệ sản xuất. Xuất phát từ quan điểm cho rằng bất cứ sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều phải là kết quả tất yếu của việc cải tạo nên những lực lượng sản xuất mới. Vì vậy, việc xây dựnh quan hệ sản xuất mới ở nước ta phải được phát triển từng bước, theo định hướng XHCN.

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở những nước như nước ta, chế độ sở hữu tất yếu phải đa dạng, ở cơ cấu kinh tế tất yếu phải có nhiều thành phần: kinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế cá thể và tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần có ý nghiã chiến lược lâu dài, có tác dụng to lớn trong việc động viên mọi nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài, lấy nội lực làm chính để xây dựng kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất. Chỉ có thể cải tạo quan hẹ sở hữu hiện nay một cách dần dần, bởi không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế cônh hữu thuần nhất một cách nhanh chóng.

Vì quan hệ sở hữu là đa dạng cho nên phải có nhiều hình thức phấn phối và nhiều hình thức tổ chức quản lý hợp lý, cũng như việc xác lập địa vị làm chủ của người lao động trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân phải diển ra từng bước, dưới nhiều hình thức và đi từ thấp đén cao.

3. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Đứng trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nền kinh tế nươc ta không thể là nền kinh tế khép kín, mà phải tích cực mở rộng quan hệ nền kinh tế đối ngoại. Đó là xu thế tất yếu của thời đại, là vấn đề có tính quy luật trong thời đại ngày nay. Chúng ta “mở cửa” nền kinh tế, thực hiện đa dạng, đa phương hoá quan hệ kinh tế quốc tế, nhằm thu hút các nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế trong nước làm thay đổi mạng mẻ về công nghệ, cơ cấu ngành và sản phẩm … mở rộng phan công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh, liên kết, hợp tác, là cơ sở để tạo điều kiện và kích thích sản xuất trong nước phát triển, vươn lên bắt kịp trình độ thé giới. Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế phải trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và không can thiệp vào công viẹc nội bộ của nhau.

Muôn vậy, phải từng bước nâng cao sức canh tranh quốc tế; tích cực khai thác thị trường thế giới; tối ưu hoá cơ cấu xuất – nhập khẩu; tích cực tham gia hợp tác kinh tế khu vực và hệ thống mậu dịch đa phương toàn cầu; xữ lý đúng đắn mối quan hệ giữa mở rộng quan hệ kinh tế đói ngoại với độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia.