Nhóm các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam

Giải pháp về khoa học công nghệ

Áp dụng các công nghệ xây dựng đường tiên tiến nhằm đảm bảo thời gian xây dựng và thời gian hoàn vốn và chất lượng đường có độ bền cao.

Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng cầu đường. Ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ và vật liệu mới, tiên tiến theo hướng mang lại hiệu quả kinh tế và nâng cao chất lượng, bền vững, thân thiện với môi trường. Áp dụng công nghệ mới trên cơ sở các loại vật liệu (đá, cát) sẵn có trong nước, các loại chất kết dính (nhựa đường, nhựa lỏng) đã có TCVN cùng với việc nhập những thiết bị thi công phù hợp để nâng cao chất lượng mặt đường và hiệu quả kinh tế. Tiếp nhận chuyển giao công nghệ xây dựng, bảo trì đường bộ từ nước ngoài, tiến tới làm chủ công nghệ về mặt lý thuyết và thực hiện triển khai thử nghiệm, phổ biến đại trà. Để các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia vào lĩnh vực này, Nhà nước cần tạo điều kiện tối đa về cơ chế, chính sách, tài chính, đào tạo. Cơ quan quản lý Nhà nước mở các lớp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ về kỹ thuật, quản lý vốn, quản lý dự án, quản lý vận hành khai thác đường bộ, đặc biệt là đường cao tốc…..cho các cán bộ quản lý Nhà nước và hỗ trợ cho cán bộ doanh nghiệp tư nhân được tham dự.

Cần nhanh chóng áp dụng công nghệ thông tin trong công tác lập và quản lý hồ sơ cầu đường, trong quản lý hệ thống KCHTGTĐB, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo trì. Xây dựng cơ sở dữ liệu và thông tin có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch, nhu cầu đầu tư, sửa chữa, quản lý hệ thống quốc lộ. Khi tính giá để chuyển nhượng công trình cho tư nhân khai thác rất cần cơ sở dữ liệu và thông tin này để định giá, theo dõi, quản lý và sử dụng tài sản đường bộ. Ứng dụng công nghệ giao thông thông minh (ITS) trong quản lý, điều hành giao thông. Đưa ra thời gian cụ thể, sớm nhất có thể trong việc áp dụng công nghệ thu phí không dừng tại tất cả các trạm thu phí.

Thực hiện cơ giới hóa thay thế cho những công việc thủ công, trang bị máy móc thiết bị cho quá trình xây dựng mới và bảo trì đường để nâng cao năng suất lao động và đảm bảo an toàn lao động. Nhà nước cần có chính sách miễn giảm thuế và hỗ trợ tín dụng cho việc nhập máy móc, thiết bị tiến tiến, hiện đại cho doanh nghiệp tư nhân tham gia xây dựng, bảo trì hạ tầng đường bộ.

Giải pháp về tuyên truyền và công khai thông tin

Cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương cùng với các nhà đầu tư tư nhân trong thời gian tới cần chú ý thực hiện tốt công tác truyền thông và công khai thông tin dự án có sự tham gia của tư nhân. Chủ trương xã hội hóa nguồn lực, thu hút khu vực tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng giao thông là chủ trương lớn của Đảng. Trách nhiệm và nghĩa vụ chủ yếu của các cơ quan quản lý nhà nước là làm cho xã hội hiểu, có sự đồng thuận hơn nữa trong việc thực hiện chủ trương này. Các dự án giao thông đường bộ thường thực hiện trong thời gian dài, quy mô vốn lớn, diễn ra trên khu vực địa giới hành chính tại nhiều địa phương và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu quốc gia nên vai trò giám sát của xã hội đối với dự án là hết sức cần thiết và là điều kiện để đảm bảo tính đồng thuận trong nhân dân. Nhà nước xây dựng cách thức để các cá nhân, tổ chức sử dụng đường bộ có thể cử đại diện tham gia hoạt động tham vấn và giám sát các vấn đề về chất lượng công trình và tài chính như tổng mức đầu tư, giá trị quyết toán công trình, suất đầu tư, mức phí, thời gian thu phí, lưu lượng xe lưu thông. Tuy nhiên, cách thức thực hiện việc này phải đảm bảo sao cho nhà đầu tư tư nhân được quyền tự do kinh doanh, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đầu tư phát triển dự án KCHTGTĐB theo hình thức PPP phức tạp hơn rất nhiều so với đầu tư công truyền thống. Vì vậy, cần tuyên truyền sâu rộng hơn nữa để có một cách hiểu thống nhất và đồng thuận khi triển khai các dự án theo hình thức PPP. Công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về huy động nguồn lực xã hội để triển khai các dự án BOT giao thông cần được đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả hơn nữa so với thời gian qua.

Cần giao cho một Bộ chủ trì thực hiện công tác này trên cơ cùng phối hợp với Bộ chuyên ngành (Bộ GTVT); các cơ quan tuyên truyền như Ban Tuyên giáo trung ương; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các bộ, cơ quan, địa phương liên quan, nhà đầu tư….. để thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền nhằm tạo đồng thuận xã hội, phản ánh trung thực, khách quan các vấn đề liên quan đến các dự án BOT đường bộ.

Đối với các dự án đã đi vào vận hành khai thác, cần có cơ chế để nhà đầu tư công khai thông tin về hoạt động thu phí như số lượng phí thu được theo thời gian cụ thể (ngày, tháng, năm), lưu lượng thực tế xe qua trạm, thời gian thu phí dự án được tính trừ lùi….Thời gian qua, hầu hết các trạm thu phí BOT chưa làm rõ được thông tin này. Người dân có quyền nghi ngờ về sự gian lận khi trên thực tế đã xảy ra việc báo cáo số lượng tiền phí thu được ít hơn rất nhiều so với thực tế tại một vài trạm thu phí Để giải quyết những mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa người sử dụng với nhà đầu tư như đã xảy ra tại một số trạm thu phí BOT ở nước ta, nhà đầu tư cần nghiêm túc và sớm thực hiện yêu cầu việc công khai thông tin, áp dụng hình thức thu phí tự động không dừng.

Đẩy mạnh công tác truyền thông, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực theo quy định của pháp luật về các dự án BOT, giải thích và làm rõ sự cần thiết phải đầu tư dự án để tạo sự đồng thuận từ người dân, qua đó hỗ trợ kiểm tra, giám sát quá trình triển khai, thực hiện, vận hành và khai thác dự án. Công tác truyền thông về chủ trương xã hội hóa đầu tư hạ tầng giao thông; công khai, minh bạch thông tin dự án đến với người dân, đặc biệt với những người liên quan đến dự án. Nếu việc này Nhà nước thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện để nhận được sự đồng thuận của xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tư nhân thực hiện và khai thác dự án. Ý nghĩa của công tác truyền thông này trong bối cảnh còn nhiều bức xúc của người dân về BOT giao thông là rất lớn, nhằm phát huy tinh thần nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà Quốc hội, Chính phủ đã đề

Cần xây dựng và đưa vào vận hành trang thông tin điện tử chính thức của Chính phủ về các vấn đề PPP một cách đầy đủ, kịp thời. Tạo cơ chế để thuận tiện cho xã hội giám sát các thông tin liên quan đến mức phí, vị trí trạm thu phí, doanh thu thu phí và những thông tin cơ bản về dự án BOT.

Giải pháp tăng cường công tác tổng kết, đánh giá, tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các loại hình hợp đồng trong hợp tác công tư.

Hình thức đầu tư PPP trong hạ tầng đường bộ có liên quan đến nhiều chủ thể, đến hoạt động đi lại của nhân dân, vận chuyển hành khách và hàng hóa. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông đường bộ ở nước ta thời gian qua mới chủ yếu áp dụng hình thức hợp đồng BOT và một số dự án BT; chỉ có vài dự án theo hình thức BTO, BOO. Sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân mới tập trung chính ở nội dung đầu tư xây dựng đối với đường quốc lộ và đường cao tốc. Thời gian tới, các cơ quan nhà nước cần phối hợp với khu vực tư nhân, các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu về hợp tác công tư trong lĩnh vực đường bộ, mở rộng sang nhiều nội dung khác như nội dung bảo trì hệ thống đường bộ nói chung, một phần trong công tác quy hoạch. Đồng thời cần tiếp tục nghiên cứu, áp dụng các loại hình hợp đồng khác của PPP. Cần nghiên cứu kỹ hình thức nhượng quyền khai thác dự án và có những động thái xúc tiến thương mại, tiếp cận tích cực với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Về mô hình nhượng quyền khai thác, hiện đã có một số nhà đầu tư lớn quan tâm đối với đường cao tốc. Nhà đầu tư IL&FS (Ấn Độ) muốn mua 70% cổ phần tại dự án cao tốc Hà Nội – Hải Phòng. Đường cao tốc Cầu Giẽ -Ninh Bình được nhà đầu tư Vinci (Pháp) đề xuất mua quyền thu phí. Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có dự án nào được ký hợp đồng triển khai. Việc chuyển nhượng thành công sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam sớm xoay vòng vốn tái đầu tư vào các dự án mới.

Một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân nước ngoài.

– Về phía Nhà nước, cần chủ động làm việc với các nhà đầu tư, các nhà cung cấp tín dụng quốc tế để giới thiệu cho họ những dự án có hiệu quả cao. Ngay cả việc lập dự án PPP cũng nên tổ chức đấu thầu quốc tế, hiện nay việc này theo quy định do nhà nước thực hiện. Trong điều kiện dòng vốn tư nhân trong nước khó khăn như hiện nay thì vốn FDI, vốn tín dụng quốc tế hết sức quan trọng, hơn nữa làm tăng tính hiệu quả quản lý, tiếp cận thị trường quốc tế và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực KCHTGTĐB. Nguồn vốn tín dụng thương mại nước ngoài có nguồn cung và thời hạn vay tốt hơn so với mặt bằng trong nước.

Một số giải pháp nhằm huy động nguồn vốn tư nhân nước ngoài bao gồm:

Thứ nhất, Bộ GTVT cần tăng cường tổ chức tham vấn các nhà đầu tư tiềm năng, các ngân hàng tiềm năng và các tổ chức tài chính quốc tế.

Thứ hai, Cần hoàn thiện quy định pháp luật, chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế và có tính ổn định cao, sớm xây dựng và ban hành Luật PPP tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để đảm bảo hai bên Nhà nước và tư nhân thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, ổn định lâu dài trong suốt hợp đồng dự án PPP. Định hướng xây dựng Luật PPP cần tính đến các cơ chế để vừa bảo đảm hiệu quả quản lý, vừa tăng tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các cơ quan có trách nhiệm phải rà soát lại các quy định để tiếp cận với quy chuẩn quốc tế.

Thứ ba, Nhà nước cần chia sẻ rủi ro thuộc về chính sách do Chính phủ quản lý. Chính phủ nên có chính sách bảo lãnh doanh thu tối thiểu và cam kết chuyển đổi ngoại tệ, chính sách bảo đảm hỗ trợ giải phóng mặt bằng và chia sẻ rủi ro về tiến độ dự án do những nguyên nhân thuộc về chính sách.

Một số dự án BOT cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng khi họ tìm hiểu cụ thể và đưa ra yêu cầu về nâng mức tỷ suất lợi nhuận đối với vốn chủ sở hữu thì chúng ta không chấp nhận. Qua tham vấn các tư vấn quốc tế, các nhà tài trợ quốc tế và thực tiễn triển khai dự án cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, Dầu Giây – Phan Thiết, Vành đai III thành phố Hồ Chí Minh đoạn Tân Vạn – Nhơn Trạch, các nhà đầu tư đều kỳ vọng và chỉ quan tâm đầu tư khi lợi nhuận đối với phần vốn chủ sở hữu tối thiểu đạt 15÷17%. Hiện nay, mức tỷ suất lợi nhuận nhà nước ấn định từ khoảng 11,5-14%.

Thực tế, xét tính chất dự án có thời gian thu hồi vốn dài, tiềm ẩn nhiều rủi ro chưa lường trước được mà nhà đầu tư phải đảm nhận, cần cho phép xác định mức lợi nhuận trên phần vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư để tính toán phương án tài chính ban đầu phải lớn hơn mức tỷ suất lợi nhuận do nhà nước ấn định hiện nay (các nhà đầu tư nước ngoài kỳ vọng mức tỷ suất lợi nhuận từ 17% – 18%), còn mức lợi nhuận chính thức của nhà đầu tư sẽ được xác định thông qua đấu thầu.

Nhà nước cần thực hiện đầy đủ những cam kết về ưu đãi. Nhà đầu tư được bảo đảm các quyền và hỗ trợ như quyền thế chấp tài sản, quyền kinh doanh công trình dự án; bảo đảm cân đối ngoại tệ; bảo đảm cung cấp các dịch vụ công cộng; bảo đảm về quyền sở hữu tài sản.

Cần sớm xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro có tính khả thi, hình thành quỹ hỗ trợ của nhà nước và bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm hút vốn FDI vào lĩnh vực KCHTGTĐB.

Thứ tư, Theo thông lệ quốc tế, đối với các nước có điều kiện tương tự Việt Nam thì trong giai đoạn đầu áp dụng mô hình PPP đều được Chính phủ cung cấp bảo lãnh. Tùy từng dự án cụ thể trong từng giai đoạn mà Chính phủ cấp bảo lãnh doanh thu cả vòng đời dự án hay trong vòng một số năm nhất định.

– Về phía tư nhân trong nước, cần hướng tới liên kết, liên danh với nhà đầu tư nước ngoài để khai thác lợi thế của các bên. Muốn vậy, nhà đầu tư trong nước cần chủ động tìm hiểu, xúc tiến hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài, nguồn vốn tín dụng thương mại từ nước ngoài căn cứ theo dự án hạ tầng cụ thể.