Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL đến năm 2025

Cơ chế, chính sách của Nhà nước có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở một nền kinh tế. Để cơ cấu ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới chuyển dịch theo định hướng nêu trên, cần thực hiện một số giải pháp về cơ chế, chính sách chủ yếu như sau:

Một là, về quy hoạch

– Đối với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 19 tháng 07 năm 2012, cần:

+ Bổ sung bối cảnh mới ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian tới.

Ngoài Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020, còn có Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; các quy hoạch ngành, lĩnh vực cấp vùng như Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông – lâm nghiệp – thủy sản vùng ĐBSCL đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSCL đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012 – 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu, Quy hoạch nuôi, chế biến cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2020, Quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Đề án phát triển sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL… Tuy nhiên, giữa các quy hoạch này không có sự gắn kết, thiếu đồng bộ, thậm chí có những nội dung còn sai lệch với nhau, chưa kể đến phương pháp và nội dung quy hoạch còn nhiều hạn chế, bất cập. Vì vậy, cần phải xây dựng một bản quy hoạch tích hợp cho vùng ĐBSCL với mục tiêu tạo ra một khung chiến lược toàn diện cho vùng, làm cơ sở cho việc triển khai các chương trình, dự án đầu tư phát triển một cách đồng bộ nhằm phát huy tối đa những tiềm năng và lợi thế của vùng.

Hai là, các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng

Về đối tượng thụ hưởng: trọng tâm là bốn sản phẩm chủ lực của vùng (lúa, cây ăn quả, thủy sản, du lịch); một số ngành công nghiệp có triển vọng; một số ngành dịch vụ động lực như ngành vận tải kho bãi, thông tin và truyền thông, ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm phát huy tối đa những tiềm năng và lợi thế so sánh tĩnh hiện có của vùng, đồng thời tạo lập những lợi thế so sánh động trong tương lai, từng bước nâng cấp cơ cấu ngành kinh tế của vùng trong quá trình CNH, HĐH.