Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột

 Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột là những hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường liên quan đã áp đặt những điều kiện thương mại bất lợi cho khách hàng nhằm thu lợi nhuận độc quyền. Ngoài những dấu hiệu cơ bản của hành vi lạm dụng như đã phân tích ở mục 1, nhóm hành vi này còn có các dấu hiệu cơ bản sau:

Thứ nhất, đối tượng mà nhóm hành vi này hướng đến là khách hàng của doanh nghiệp làm phát sinh trong quan hệ giữa doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, có vị trí độc quyền với khách hàng. Ở đó, hiện tượng trăm người bán, vạn người mua sẽ là cơ hội cho người bán tận dụng để đưa ra những điều kiện bất lợi cho người mua trong giao dịch.

Thứ hai, hành vi lạm dụng đem lại lợi ích cho doanh nghiệp không từ hiệu quả kinh doanh mà từ những điều kiện thương mại bất lợi mà khách hàng phải gánh chịu. Lợi ích mà doanh nghiệp thu được có thể là các khoản lợi nhuận độc quyền, khả năng khống chế các yếu tố của thị trường như nguyên, vật liệu, nguồn cung…, các chiến lược kinh doanh ở những thị trường khác được thực hiện…. Điều này cho thấy bản chất bóc lột của hành vi lạm dụng bởi các khoản lợi ích mà doanh nghiệp thu được là do đã bóc lột được từ khách hàng bằng những nghĩa vụ vô lý hoặc không công bằng.

Theo Luật Cạnh tranh, nhóm hành vi này bao gồm các hành vi sau đây:

–  Áp đặt giá mua giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

–  Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

–  Phân biệt đối xử trong các giao dịch như nhau;

–  Áp đặt các điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc các doanh nghiệp khác phải chấp nhận những nghĩa vụ không liên quan đến hợp đồng.

1. Áp đặt giá mua giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

Hành vi áp đặt giá mua, giá bán bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại gây thiệt hại cho khách hàng được coi là điển hình cho nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột. Với hành vi này, khách hàng đã phải chịu thiệt hại bởi giá mà họ phải mua quá cao so với giá trị thực tế của sản phẩm; hoặc phải bán với giá thấp hơn giá thành của sản phẩm. Giá mua, bán sản phẩm trên thị trường không được hình thành từ cạnh tranh mà do các doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền ấn định. Mức chênh lệch giữa giá được ấn định với giá cạnh tranh (giả định) là khoản lợi ích độc quyền mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có được. Dưới góc độ kinh tế, bằng hành vi ấn định giá bán, giá mua hàng hóa dịch vụ bất hợp lý, doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền đã có được toàn bộ giá trị thặng dư tiêu dùng của thị trường. Giá trị thặng dư tiêu dùng là những lợi ích mà người tiêu dùng được thụ hưởng nếu thị trường có cạnh tranh. Do đó, lợi nhuận mà việc ấn định giá bất hợp lý đem lại cho doanh nghiệp không phải do khả năng kinh doanh hay do khả năng đàm phán, trả giá mang lại, mà do kết quả của sự lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền, lạm dụng tình trạng không có khả năng lựa chọn khác của khách hàng để buộc họ phải chấp nhận mức giá mà doanh nghiệp có sức mạnh thị trường áp đặt. Với những hành vi này, giá mua, giá bán hàng hóa dịch vụ không được hình thành theo đúng các quy luật của thị trường mà do các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định. Do đó, hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng bị coi là hạn chế cạnh tranh không chỉ bởi mục đích bóc lột khách hàng của các doanh nghiệp thực hiện hành vi mà còn bởi chúng làm sai lệch cơ chế hình thành giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ.

Theo Luật Cạnh tranh và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, nhóm hành vi này có ba loại vi phạm cụ thể sau đây:

 a. Hành vi áp đặt giá mua hàng hoá dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng, là “việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường liên quan khi mua hàng hoá, dịch vụ đã áp đặt giá mua được đặt ra thấp hơn giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ trong điều kiện chất lượng hàng hóa không suy giảm và thị trường không có biến động về giá bán buôn của hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ”(Khoản 1 Điều 27 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.)

Trong trường hợp này, doanh nghiệp thực hiện hành vi đang đóng vai trò là người mua hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Với quy định trên, để xác định hành vi, cần chứng minh hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất, giá của hàng hóa, dịch vụ đã bị doanh nghiệp thực hiện hành vi áp đặt thấp hơn giá thành sản xuất. Để xác định dấu hiệu này, cơ quan có thẩm quyền so sánh giá mua bán của sản phẩm với giá thành của chúng. Giá mua bán là giá giao dịch thực tế giữa doanh nghiệp thực hiện hành vi với khách hàng (người bán). Giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ bao gồm các chi phí trực tiếp sau đây: Chi phí vật tư trực tiếp (gồm các chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu và động lực tiêu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp); chi phí nhân công trực tiếp (gồm các khoản trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi ăn ca, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp); chi phí sản xuất chung (gồm các khoản chi phí chung phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp như tiền lương, phụ cấp, ăn ca trả cho nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ sản xuất dùng cho phân xưởng, khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí kể trên)(Điều 24 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.). Dấu hiệu này được thỏa mãn nếu kết quả so sánh cho thấy giá mua bán thấp hơn giá thành của hàng hóa, dịch vụ và ngược lại.

Thứ hai, việc áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ thấp hơn giá thành là bất hợp lý. Việc áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ thấp hơn giá thành là bất hợp lý nếu thỏa mãn hai điều kiện:

–  Chất lượng hàng hoá, dịch vụ không kém hơn trước đó;

–  Không có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến động bất thường làm giá bán buôn hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp so với trước đó.

Dấu hiệu thứ hai cho thấy có những trường hợp doanh nghiệp áp đặt giá mua sản phẩm dưới giá thành nếu hợp lý (không có dấu hiệu của việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền) là chất lượng của hàng hóa, dịch vụ giảm so với trước đó; hoặc có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến động bất thường làm giá bán buôn hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp so với trước đó. Trong những trường hợp này, giá của sản phẩm đã bị chi phối bởi các điều kiện khách quan của thị trường và của chất lượng sản phẩm mà không do ý chí của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền.

Bằng việc áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền đã buộc khách hàng phải chấp nhận lỗ để tiêu thụ được sản phẩm mà không có lý do chính đáng. Doanh nghiệp đã sử dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền làm lợi thế trước khách hàng để gây bất lợi cho họ nhằm thu lợi ích độc quyền.

 b. Hành vi áp đặt giá bán hàng hoá, dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng nếu cầu về hàng hoá, dịch vụ không tăng đột biến tới mức vượt quá công suất thiết kế hoặc năng lực sản xuất của doanh nghiệp và hành vi đó xảy ra trong  hai trường hợp sau đây:

-                      Giá bán lẻ trung bình tại cùng thị trường liên quan trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp được đặt ra tăng một lần vượt quá 5%; hoặc tăng nhiều lần với tổng mức tăng vượt quá 5% so với giá đã bán trước khoảng thời gian tối thiểu đó;

-                      Không có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hoá, dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu tăng giá(Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).Như vậy, để xác định hành vi này, cơ quan có thẩm quyền cần chứng minh các dấu hiệu sau đây:

 Thứ nhất, có hiện tượng giá bán lẻ trung bình của hàng hóa, dịch vụ trên cùng thị trường liên quan tăng vượt mức 5% so với trước đó trong 60 ngày liên tiếp. Do đó, cơ quan điều tra sẽ phải xác định giá bán lẻ trung bình trước sáu tháng kể từ khi có hiện tượng tăng giá và xác định mức tăng lên của giá bán lẻ trung bình trong khoảng thời gian trên. Nếu mức tăng vượt quá 5% thì thỏa mãn dấu hiệu này và ngược lại. Cần lưu ý rằng, dấu hiệu này chỉ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định hiện tượng tăng giá bán lẻ của sản phẩm mà không cần xác định sự bất hợp lý của giá bán. Thế nên, căn cứ để xác định dấu hiệu này không là giá bán thực tế và giá cạnh tranh của sản phẩm mà là giá bán lẻ trung bình trước và sau khi có hiện tượng tăng giá bán.

Thứ hai, việc tăng giá bán lẻ trung bình của sản phẩm xảy ra trong điều kiện cầu về hàng hoá, dịch vụ không tăng đột biến tới mức vượt quá công suất thiết kế hoặc năng lực sản xuất của doanh nghiệp và không có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hoá, dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu tăng giá. Dấu hiệu này cho thấy sự bất hợp lý của việc tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Quyết định tăng giá đã không dựa trên những cơ sở kinh tế hợp lý mà chịu sự chi phối bởi quyền lực thị trường. Ngược lại, nếu xảy ra một trong hai tình huống là lượng cầu của thị trường tăng đột biến và thị trường có biến động bất thường làm giá thành sản xuất của sản phẩm tăng thì việc tăng giá bán lẽ trung bình trên cùng thị trường liên quan không có dấu hiệu của việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền.

Về hành vi này, kinh nghiệm của các nước cho thấy, pháp luật của họ còn ngăn cấm việc định giá bán hàng hóa, dịch vụ cao một cách vô lý. Để kết luận về hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao bất hợp lý cơ quan cạnh tranh sẽ thực hiện hai bước điều tra:  Một là, xác định một mức giá đúng có thể chấp nhận được dựa vào chi phí sản xuất và tình hình thị trường (còn gọi là giá cạnh tranh – tức là giá được hình thành trong môi trường có cạnh tranh) và giá bán thực tế của sản phẩm. Nếu giá bán thực tế cao hơn so với giá cạnh tranh thì có thể kết luận là có dấu hiệu lạm dụng.

Hai là, cơ quan cạnh tranh sẽ xem xét những lý do dẫn đến việc giá bán quá cao như do chi phí tăng lên hoặc do nhu cầu tăng….

Các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh khuyến cáo việc ngăn cấm hành vi định giá cao cần phải lưu ý khả năng cơ quan cạnh tranh có thể điều tiết sâu vào quan hệ thị trường, bởi giá cả thể hiện khả năng tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường và lợi nhuận lại có vai trò tạo động cơ cho việc gia nhập hay rút khỏi thị trường. Khi đó, việc Nhà nước lạm dụng quy định này để điều tiết giá cả có thể làm cho vai trò trên của lợi nhuận bị vô hiệu(OECD-WB, sđd, tr 170.). Dưới góc độ khoa học, cách tiếp cận này mới thực sự diễn tả đúng về hành vi áp đặt giá bán bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng.

 c. Áp đặt giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là việc doanh nghiệp khống chế không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hoá thấp hơn mức đã quy định trước(Khoản 3 Điều 27 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.).

Trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với những nhà phân phối hoặc bán lẻ hàng hoá của doanh nghiệp với việc ấn định giá bán lại, đối tượng bóc lột của doanh nghiệp là người tiêu dùng sản phẩm chứ không phải nhà phân phối hoặc người bán lẻ đã có quan hệ trực tiếp với họ. Khi bàn đến khái niệm hành vi ấn định giá bán lại, cần phải phân biệt ấn định giá bán lại và ấn định giá trong thỏa thuận về giá giữa các doanh nghiệp được quy định tại khoản 1 điều 8 Luật Cạnh tranh(Khoản 1 Điều 8 Luật Cạnh tranh cấm các thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.). Thoả thuận ấn định giá là sự thống nhất giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau để xác định một mức giá hoặc một công thức tính giá duy nhất mà họ sẽ áp dụng khi tiêu thụ sản phẩm của mình.  Như vậy, mức giá hoặc công thức tính giá được thống nhất trong thỏa thuận về giá phải là:

–                      Kết quả của sự tự nguyện giữa những người tham gia thỏa thuận (những người tham gia thỏa thuận là đối thủ cạnh tranh của nhau – cùng cấp độ kinh doanh trên thị trường liên quan);

–                      Tất cả doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có nghĩa vụ áp dụng giá đã thỏa thuận khi tiêu thụ sản phẩm của mình.

Hành vi ấn định giá bán lại được kinh tế học coi là một dạng của thỏa thuận về giá, nhưng lại có những dấu hiệu đặc thù sau đây:

–                      Ấn định giá bán lại là thỏa thuận dọc giữa nhà sản xuất với người phân phối sản phẩm của họ. Như vậy, các bên tham gia hành vi ấn định giá bao gồm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền và các nhà phân phối, các nhà bán lẻ của họ. Các chủ thể này không cùng thị trường liên quan mà chỉ là các doanh nghiệp ở những cấp độ khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm. Do đó, hành vi ấn định giá bán lại dù được các lý thuyết cạnh tranh gọi là thỏa thuận song không phải là thỏa thuận ấn định giá đã được phân tích trong chế định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

–                      Giá bán lại là kết quả của sự áp đặt của nhà sản xuất đối với người phân phối, thiếu vắng yếu tố tự nguyện, tự do ý chí của người phân phối trong việc xác định mức giá bán lại. Theo đó, với vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, doanh nghiệp không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hoá thấp hơn mức đã quy định trước. Nhà phân phối, nhà bán lẻ chỉ còn có thể bán hại hàng hóa bằng hoặc cao hơn mức giá sàn đã được doanh nghiệp ấn định. Với hành vi này, doanh nghiệp đã không gây thiệt hại trực tiếp cho các nhà phân phối, các nhà bán lẻ mà buộc họ phải hợp tác với mình để bóc lột khách hàng mua lại hàng hóa.

2. Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý, giới hạn thị trường cản trở phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng

Là người nắm giữ thị phần lớn, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, là đại diện cho năng lực, quy mô sản xuất, mua bán của thị trường liên quan, doanh nghiệp độc quyền sẽ đại diện cho khả năng cung hoặc cầu của thị trường liên quan, các quyết định về lượng hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, mua, bán sẽ ảnh hưởng đến mức độ thoả mãn nhu cầu cho khách hàng. Do ở vào địa vị thấp hơn trong giao dịch bởi quyền lựa chọn

bị hạn chế, nên khi bị vi phạm quyền lợi, khách hàng rất khó phản ứng lại vì không thể sử dụng các cơ chế trừng phạt tự nhiên của thị trường để răn đe doanh nghiệp.  Nhóm hành vi này bao gồm ba loại hành vi cụ thể sau đây:

 a. Hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi giảm khả năng cung hàng hoá, dịch vụ một cách giả tạo để lũng đoạn thị trường, làm biến động quan hệ cung – cầu theo hướng có lợi cho doanh nghiệp trong giao dịch với khách hàng.

Hành vi này thường được thực hiện bằng một trong 3 cách thức sau đây:

 Một, cắt, giảm lượng cung ứng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường liên quan so với lượng hàng hoá, dịch vụ cung ứng trước đó trong điều kiện không có biến động lớn về quan hệ cung – cầu; không có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch hoạ; không có sự cố lớn về kỹ thuật; hoặc không có tình trạng khẩn cấp.

Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền phải thu thập các số liệu về lượng hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bị điều tra cung cấp trước và sau khi thực hiện hành vi. Đồng thời thẩm tra những diễn biến của thị trường trong thời gian trước và trong khi hành vi được thực hiện. Nội dung thẩm tra là sự biến động của lượng cầu hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan, tình trạng khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc những sự cố lớn về kỹ thuật, các tình trạng khẩn cấp khác ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, mua bán của doanh nghiệp. Nếu kết luận cho thấy doanh nghiệp bị điều tra đã chủ động cắt giảm lượng cung hàng hóa, dịch vụ trong khi không xảy ra những biến động trên thì kết luận là có vi phạm và ngược lại.

Hai, ấn định lượng cung ứng hàng hoá, dịch vụ ở mức đủ để tạo khan hiếm trên thị trường.  Trong trường hợp này, doanh nghiệp đã định lượng khả năng sản xuất, khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ của mình để tạo khan hiếm trên thị trường. Vấn đề quan trọng nhất trong việc xác định hành vi là chứng minh việc định lượng hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, mua bán đủ tạo khan hiếm trên thị trường. Thông thường, có rất nhiều cách để chứng minh về tình trạng khan hiếm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường như so sánh lượng cầu của thị trường với lượng cung của hàng hóa, dịch vụ và năng lực sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc chứng minh bằng những biến động về giá, về điều kiện mua bán hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường…. Tùy theo điều kiện cụ thể của vụ việc mà cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng những căn cứ, những cách thức phù hợp để xác định về mức độ khan hiếm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.

                Ba, găm hàng lại không bán để gây mất ổn định thị trường.

Theo từ điển tiếng Việt, găm được hiểu là giữ rịt lấy không chịu đưa ra nhằm mưu lợi riêng(Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt (Hà Nội: NXB Khoa học xã hội, 1994), tr 359.). Do đó, hành vi này được hiểu là việc doanh nghiệp vẫn sản xuất hoặc thu mua hàng hóa theo năng lực nhưng đã không cung cấp cho thị trường theo nhu cầu của khách hàng với mục đích gây mất ổn định thị trường. Với hai hành vi đầu, doanh nghiệp chỉ sản xuất, chỉ cung ứng hàng hóa, dịch vụ ở mức thấp hơn nhu cầu thị trường nhằm trục lợi. Với hành vi găm hàng lại không bán, doanh nghiệp chỉ giới hạn lượng hàng hóa được bán ra thị trường mà không giới hạn khả năng sản xuất, thu mua của mình.

Do đó, để xác định hành vi này, cơ quan có thẩm quyền cần chứng minh rằng doanh nghiệp đã có dấu hiệu đầu cơ hàng hóa (có sản xuất hoặc có thu mua hàng hóa nhưng chỉ bán với số lượng ít hơn so với nhu cầu thị trường) nhằm gây mất ổn định thị trường.  Ba loại trường hợp vi phạm trên cho thấy doanh nghiệp đã tự giới hạn năng lực sản suất, hoặc giới hạn lượng hàng hóa cung cấp thấp hơn so với nhu cầu trên thị trường. Các dấu hiệu khách quan của hành vi đã chứng minh rằng doanh nghiệp đang lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để chi phối quan hệ cung – cầu của thị trường, làm mất cân đối cung – cầu nhằm chi phối các điều kiện mua, bán với khách hàng. Hậu quả mà hành vi này gây ra cho khách hàng không chỉ là nhu cầu của họ về hàng hoá, dịch vụ không được đáp ứng đầy đủ theo đúng khả năng thực có của thị trường mà còn là những điều kiện mua bán như giá cả, phương thức phân phối, cung ứng… sẽ thay đổi theo hướng bất lợi cho khách hàng.

Ngoài ra dưới góc độ quản lý kinh tế, hành vi hạn chế sản xuất hay phân phối còn có thể gây ra những tổn hại không thể lường trước và khó phục hồi ngay được trên thị trường, làm mất lòng tin của người dân vào khả năng quản lý kinh tế của Nhà nước,  có thể gây ra những xáo trộn nhất định. Trong hình luật của nhiều nước, các hành vi đầu cơ, tích trữ mà gây xáo trộn thị trường còn có thể bị coi là tội phạm.

 b. Hạn chế thị trường gây thiệt hại cho khách hàng là việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đã tự giới hạn khu vực bán hoặc giới hạn nguồn mua sản phẩm mà không có lý do chính đáng gây thiệt hại cho khách hàng

Dưới sự bảo trợ của quyền tự do kinh doanh, các doanh nghiệp được lựa chọn thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng sản phẩm để phục vụ cho quá trình kinh doanh. Nhà nước không được can thiệp nếu như quyền tự do kinh doanh vẫn được sử dụng trong khuôn khổ của pháp luật. Tuy nhiên, doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền lại có một vị thế hết sức đặc biệt trên thị trường liên quan bởi họ là nguồn cung hoặc nguồn cầu lớn nhất, quan trọng nhất của thị trường. Sự tự do của doanh nghiệp trong việc lựa chọn thị trường lại càng phải được thực hiện một cách hết sức cẩn trọng để tránh khả năng xảy ra thiệt hại rất lớn đối với trật tự kinh tế, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Trong tư duy đó, việc lựa chọn thị trường hay quyền giới hạn thị trường mua bán của các doanh nghiệp nói trên cũng nằm trong tình trạng tương tự.

Việc giới hạn thị trường gây thiệt hại bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh khi doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thực hiện một trong hai hành vi sau đây:

Một, chỉ cung ứng hàng hoá, dịch vụ trong một khu vực địa lý nhất định. Hành vi này làm cho các khách hàng ở những khu vực địa lý khác trên thị trường liên quan không có cơ hội được thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, không được sử dụng các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất hoặc phân phối. Với hành vi này, doanh nghiệp đã tự giới hạn thị trường địa lý mà họ kinh doanh bằng cách chỉ cung ứng hàng hóa trong một khu vực nhất định và từ chối hoặc không cung ứng sản phẩm ở những khu vực khác. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần phải chứng minh được rằng doanh nghiệp bị điều tra có đủ khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ ở những khu vực địa lý khác. Hành vi vi phạm trên đã bao hàm trong nó khả năng gây ra thiệt hại đối với khách hàng mà pháp luật và cơ quan thực thi không cần phải chứng minh về hậu quả của chúng đối với thị trường.

Hai, chỉ mua hàng hóa, dịch vụ từ một hoặc một số nguồn cung nhất định mà không có lý do chính đáng. Với hành vi này, doanh nghiệp đã giới hạn thị trường mua hàng hóa, dịch vụ theo nguồn cung cấp (theo khách hàng). Chứng cứ về hành vi này là việc doanh nghiệp đã từ chối không mua hàng hóa, dịch vụ từ những nguồn cung khác mà không có lý do chính đáng. Theo Điểm b Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 116/2005/NĐCP, doanh nghiệp được quyền từ chối mua hàng hóa, dịch vụ từ các nguồn khác nếu các nguồn này không đáp ứng được những điều kiện hợp lý và không phù hợp với tập quán thương mại thông thường do bên mua đặt ra.

 c. Hạn chế sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng là việc doanh nghiệp thực hiện những hành vi nhằm cản trở việc nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ hoặc ngăn cản việc ứng dụng tiến bộ khoa hoặc kỹ thuật vào hoạt động kinh doanh  Cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng bao gồm các loại hành vi sau đây:

 Một là, mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng. Để xác định hành vi, cơ quan có thẩm quyền cần chứng minh hai điều kiện:  – Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đã tổ chức mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp của các chủ thể khác; và

–                      Có bằng chứng cho thấy doanh nghiệp tiêu hủy hoặc không sử dụng những đối tượng trên.

Như vậy, doanh nghiệp thực hiện hành vi không phải là tác giả mà là người mua lại sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp từ các chủ thể khác. Việc tiêu hủy hoặc không sử dụng những đối tượng trên cho thấy doanh nghiệp thực hiện hành vi không có ý định khai thác lợi ích của sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để phục vụ cho hoạt động kinh doanh mà chỉ lợi dụng quyền được bảo hộ để ngăn cản các doanh nghiệp khác không được tiếp cận và sử dụng những đối tượng đó. Hành vi này bị coi là hạn chế cạnh tranh bởi nó đã cản trở khả năng ứng dụng của các đối tượng thuộc sở hữu công nghiệp vào hoạt động kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế. Hành vi mua lại các phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp sẽ xác lập tư cách chủ sở hữu cho doanh nghiệp được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu, sử dụng những đối tượng nói trên. Song, doanh nghiệp không có quyền tuyệt đối và vô hạn. Việc doanh nghiệp định đọat bằng cách không sử dụng hoặc tiêu hủy đã ngăn chặn khả năng kế thừa thành tựu khoa học, công nghệ của các thế hệ sau trong sự phát triển chung của xã hội, làm cho những lợi ích công chúng có thể được thụ hưởng từ việc sử dụng các giải pháp hữu ích, sáng chế, phát minh… sẽ bị ngăn chặn, làm giảm khả năng phát triển về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Vì vậy, dù đã xác lập tư cách chủ sở hữu đối với các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp, song pháp luật không thể bảo hộ, che chắn cho những toan tính không tử tế nói trên của doanh nghiệp có quyền lực thị trường.

Hai là, đe dọa hoặc ép buộc người đang nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ phải ngừng hoặc hủy bỏ việc nghiên cứu đó. Với hành vi này, cơ quan có thẩm quyền cần xác định được chủ thể đang tiến hành nghiên cứu phát triển kỹ thuật công nghệ và chứng minh được rằng doanh nghiệp đã có hành vi đe dọa, ép buộc những chủ thể đó phải ngừng hoặc hủy bỏ việc nghiên cứu.

Lý thuyết cạnh tranh đã chỉ rõ, vì mục đích lợi nhuận, các doanh nghiệp đã đua nhau phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, kể cả không ngừng nghiên cứu, ứng dụng khoa học để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Nhờ có cạnh tranh, các chủ thể trên thị trường (bao gồm doanh nghiệp và người tiêu dùng) có thể hưởng được thành quả của sự phát triển kỹ thuật công nghệ. Sự tồn tại của doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường làm giảm sức ép cạnh tranh, làm cho động lực phát triển kỹ thuật sẽ giảm, xâm hại nghiêm trọng đến quyền được hưởng thụ của xã hội thông qua các khách hàng.

3. Hành vi áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau cho các giao dịch như nhau nhằm tạo sự bất bình đẳng cho khách hàng (còn gọi là hành vi phân biệt đối xử trong thương mại)

Điều 29 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định việc áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh là hành vi phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp về điều kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng trong những giao dịch mua, bán hàng hoá, dịch vụ tương tự về mặt giá trị hoặc tính chất hàng hoá, dịch vụ để đặt một hoặc một số doanh nghiệp vào vị trí cạnh tranh có lợi hơn so với doanh nghiệp khác.

Quy định trên cho thấy cấu thành pháp lý của hành vi này bao gồm các yếu tố sau đây:  Thứ nhất, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã áp dụng các điều kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng khác nhau trong những giao dịch như nhau. Như vậy, để xác định dấu hiệu này, cơ quan có thẩm quyền cần chứng minh:

–                      Doanh nghiệp đang có giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ với nhiều khách hàng là những doanh nghiệp khác. Điều này cho thấy, pháp luật cạnh tranh chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh đối với các giao dịch mua bán và khách hàng là các doanh nghiệp. Do đó, hành vi phân biệt đối xử với khách hàng là người tiêu dùng sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này. Mặt khác, loại giao dịch mà doanh nghiệp phân biệt đối xử là các giao dịch mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ. Về vấn đề này, luật pháp các nước có những cách tiếp cận khác nhau sau đây:

+ Mở rộng phạm vi áp dụng đối với mọi giao dịch từ mua bán hàng hoá, dịch vụ đến bảo hiểm, ủy thác…. Điều 6 Luật Cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ quy định loại hành vi lạm dụng này bao gồm “…tạo ra một sự phân biệt một cách trực tiếp hay gián tiếp bằng cách áp đặt các điều kiện khác nhau đối với các quyền và nghĩa vụ như nhau cho các khách hàng có vị trí như nhau”; Khoản 2 Điều 7 Luật Cạnh tranh Bungary cũng quy định hành vi phân biệt đối xử với các khách hàng khác nhau hoặc sử dụng các điều khoản hợp đồng không bình đẳng là hành vi hạn chế cạnh tranh.

+ Giới hạn loại giao dịch áp dụng đối với hành vi này. Theo đó pháp luật chỉ áp dụng điều khoản về phân biệt đối xử cho các giao dịch mua bán hàng hoá, mọi giao dịch về thuê hoặc ký gửi trong thương mại cho dù có sự phân biệt cũng không bị coi là lạm dụng quyền lực để phân biệt đối xử(CIDA-Bộ Thương mại Việt Nam, sđd, tr 69.). Pháp luật Cạnh tranh của Canađa, Hàn Quốc, Việt Nam… theo xu hướng thứ hai này.

–                      Các giao dịch bị phân biệt đối xử phải là những giao dịch như nhau. Một khi chưa chứng minh được các giao dịch với khách hàng là như nhau thì chưa thể kết luận có hành vi phân biệt đối xử. Nếu các giao dịch là tương tự nhau thì các khách hàng cần được đối xử như nhau. Việc doanh nghiệp áp dụng các điều kiện mua bán, áp dụng giá mua bán, số lượng…. khác nhau với các giao dịch như nhau cho thấy doanh nghiệp đã có thái độ bất công với khách hàng và có thể gây ra những hậu quả bất lợi cho một, một số khách hàng so với những khách hàng còn lại. Theo Nghị định số 116/2005/NĐCP, các giao dịch được coi là như nhau khi chúng tương tự nhau về tính chất hoặc giá trị của hàng hóa, dịch vụ. Nói cách khác, khi đối tượng của giao dịch tương tự nhau thì chúng phải được coi là như nhau. Điều đó cho thấy, nếu như sản phẩm của các giao dịch không giống nhau về giá trị hoặc về tính chất thì việc áp dụng điều kiện thương mại khác nhau cho chúng sẽ được pháp luật chấp nhận. Về vấn đề này, pháp luật của các nước có các quy định chặt chẽ hơn, theo đó, các giao dịch chỉ được coi là như nhau khi chúng tương tự nhau về đối tượng (tính chất và giá trị), về khối lượng, số lượng giao dịch, về tính thường xuyên, về thời gian thiết lập và thực hiện giao dịch…. Chỉ cần có sự khác biệt một cách đáng kể về một trong những yếu tố trên thì việc áp dụng các điều kiện thương mại khác nhau có thể được chấp nhận. Do đó, quy định về sự như nhau của giao dịch mua bán trong pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập, cụ thể là:  + Các giao dịch chỉ được coi là tương tự nhau khi chúng tương tự về mặt giá trị của giao dịch (không đồng nhất với khái niệm giá trị sản phẩm). Do các doanh nghiệp có quyền dành ưu đãi cho khách hàng lớn hoặc thường xuyên (khách hàng lớn là những người mua bán với giá trị lớn), nên pháp luật của hầu hết các nước đều cho phép nhà kinh doanh dành những ưu đãi cho các hợp đồng có giá trị lớn (mua với số lượng lớn) cho các khách hàng thường xuyên với điều kiện nhất định (những ưu đãi đó phải minh bạch cho mọi khách hàng được biết và khách hàng có cơ hội như nhau nếu thỏa mãn điều kiện đã được đưa ra từ trước). Giá trị hợp đồng sẽ được tính dựa vào số lượng sản phẩm và giá trị sản phẩm. Trong thực tế, các doanh nghiệp thường thực hiện các chính sách ưu đãi đối với các khách hàng mua bán hàng hóa, dịch vụ với số lượng lớn và thường xuyên.

+ Việc phải xem xét thời điểm thiết lập và thực hiện các giao dịch là hợp lý bởi cùng với thời gian và các biến động của tình hình thị trường, các điều kiện về quan hệ cung cầu, về mức độ cạnh tranh và về tình hình tài chính, đầu tư trên thị trường sẽ thay đổi, kéo theo những thay đổi trong chiến lược kinh doanh (bao gồm cả chiến lược tiêu thụ sản phẩm) của các doanh nghiệp. Các giao dịch cho dù tương tự về sản phẩm và về giá trị hợp đồng nhưng được xác lập ở những điều kiện thị trường không giống nhau thì có thể sẽ áp dụng các điều kiện thương mại khác nhau. Vì vậy, việc ngăn cấm hành vi phân biệt đối xử không có ý hạn chế các doanh nghiệp được thay đổi điều kiện thương mại theo thời gian.

–                      Doanh nghiệp đã áp dụng những điều kiện thương mại khác nhau về giá, về điều kiện mua bán, thời hạn thanh toán, số lượng… cho những giao dịch như nhau. Cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào nội dung giao dịch, nội dung hợp đồng để chứng minh dấu hiệu này. Với quy định trên, hành vi phân biệt đối xử theo pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều loại như phân biệt đối xử về giá, về điều kiện mua bán, phân biệt đối xử về thời hạn thanh toán, về số lượng, khối lượng giao dịch. Pháp luật không quy định riêng về cấu thành pháp lý của các hành vi này mà gọi chung là hành vi áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh. Khoản 4 Điều 13 Luật Cạnh tranh và điều 29 Nghị định 116/2005/NĐ-CP được áp dụng chung cho mọi loại phân biệt đối xử. So sánh với pháp luật của các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canađa, Cộng hòa Pháp…, pháp luật có những quy định chi tiết về từng loại phân biệt đối xử. Đặc biệt  đối với phân biệt đối xử về giá, Luật Cạnh tranh và án lệ của các nước có những giải nghĩa khá cụ thể về cấu thành pháp lý của hành vi này. Điều 50(1)(a) Luật Cạnh tranh Canađa quy định cấm các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền phân biệt đối xử giá với các khách hàng có giao dịch như nhau. Để xác định hành vi, Cơ quan cạnh tranh của quốc gia này có những hướng dẫn chi tiết về cấu thành pháp lý của hành vi và giải thích cặn kẽ các từ ngữ trong quy định của Luật Cạnh tranh(CIDA, sđd, tr 238-281.). Với mỗi loại phân biệt đối xử sẽ có những căn cứ xác định riêng.

Thứ hai, hành vi gây ra tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng giữa các khách hàng. Xét về mặt hậu quả, hành vi phân biệt đối xử không xâm hại đến đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp vi phạm mà nó bóp méo diện mạo cạnh tranh giữa các khách hàng của doanh nghiệp. Do đó, các khách hàng của doanh nghiệp phải là những chủ thể kinh doanh và hoạt động trên cùng thị trường liên quan với nhau.

Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định sự bất bình đẳng là tình trạng một một số doanh nghiệp có được vị trí có lợi hơn so với doanh nghiệp khác.

Vị trí cạnh tranh có lợi mà Nghị định mô tả nhìn dưới góc độ kinh tế học được xem xét dưới hai tình huống, sau đây:

–                      Việc phân biệt đối xử tạo ra những ưu thế cho một số khách hàng so với những khách hàng khác, ví dụ giá sản phẩm được tính rẻ hơn người khác hoặc thời gian giao hàng được sớm hơn…;

–                      Việc phân biệt đối xử tạo ra những tình trạng bất lợi hơn của một hoặc một số khách hàng so với những khách hàng khác, ví dụ như áp đặt các điều kiện giao sản phẩm bất lợi hơn, giá cả cao hơn… người khác. Hai tình huống trên tương ứng với hai nội dung của sự phân biệt, đó là áp đặt các điều kiện thương mại ưu đãi cho một hoặc một vài khách hàng nhất định nào đó trong các giao dịch tương tự với các khách hàng còn lại; hoặc áp đặt điều kiện thương mại mang tính bất lợi cho một hoặc một số khách hàng khác so với điều kiện thương mại thông thường của các giao dịch tương tự khác.

4. Hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc buộc các doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

 a. Hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ

Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định “Áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ là việc áp đặt những điều kiện tiên quyết mà khách hàng phải chấp nhận trước khi ký kết hợp đồng, bao gồm:

–                      Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa khác; hạn chế mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lý theo quy định của pháp luật về đại lý;

–                      Hạn chế về địa điểm, bán lại hàng hoá trừ những hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật;  – Hạn chế về khách hàng mua lại hàng hoá trừ những hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật;  – Hạn chế về hình thức, số lượng hàng hoá được cung cấp”.

Quy định trên cho thấy cấu thành pháp lý của hành vi này bao gồm các yếu tố sau đây:  Thứ nhất, doanh nghiệp đã buộc khách hàng khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ phải chấp nhận các điều kiện có nội dung hạn chế cạnh tranh. Như vậy, ngoài nghĩa vụ của bên mua hoặc bên bán hàng hóa dịch vụ, khách hàng phải chấp nhận thêm các điều kiện ký kết hợp đồng do doanh nghiệp đặt ra. Những điều kiện này có thể là một nghĩa vụ nằm trong một vài điều khoản của hợp đồng hoặc chỉ là một yêu cầu độc lập được doanh nghiệp đưa ra khi đàm phán ký kết hợp đồng. Khi xác định yếu tố này, có một số vấn đề cần lưu ý:

–                      Khách hàng trong các giao dịch bị áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng phải là các doanh nghiệp khác. Thông thường, khách hàng trong trường hợp này là các nhà phân phối, các đại lý hoặc của hàng bán lẻ của doanh nghiệp thực hiện hành vi hoặc các doanh nghiệp mua bán hàng hóa, dịch vụ làm nguyên liệu sản xuất. Khoản 5 Điều 13 Luật Cạnh tranh không áp dụng đối với các hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ giữa doanh nghiệp với khách hàng là người tiêu dùng hoặc các tổ chức, cá nhân không kinh doanh.

–                      Các điều kiện được doanh nghiệp đưa ra có nội dung phản cạnh tranh. Điều này cho thấy pháp luật không cấm các doanh nghiệp đặt ra điều kiện ký kết hợp đồng mà chỉ cấm đối với trường hợp doanh nghiệp đặt ra điều kiện mua bán nhằm mục đích hạn chế cạnh tranh. Trong thực tế, với mục đích bảo vệ uy tín của doanh nghiệp, nâng cao danh tiếng của thương hiệu, các doanh nghiệp có quyền đưa ra các tiêu chuẩn để lựa chọn đối tác có khả năng sử dụng tối ưu hiệu quả của đối tượng hợp đồng hoặc đưa ra các nghĩa vụ mà đối tác phải chấp nhận nhằm bảo đảm cho sản phẩm có khả năng được sử dụng một cách tốt nhất. Với cách tiếp cận này, quyền lựa chọn đối tác và quyền đưa ra các nghĩa vụ trong hợp đồng là bình thường trong kinh doanh và được pháp luật thừa nhận. Có thể tìm thấy những tiêu chuẩn chọn lựa đối tác trong tổ chức đấu thầu, đấu giá hoặc các điều kiện về tiêu chuẩn kỹ thuật mà đối tác phải đáp ứng khi giao dịch với doanh nghiệp….

Các điều kiện hạn chế cạnh tranh bị cấm bao gồm 4 loại điều kiện: buộc khách hàng phải hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá khác; hạn chế mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lý theo quy định của pháp luật về đại lý; hoặc hạn chế về địa điểm, bán lại hàng hoá trừ những hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật; hoặc hạn chế về khách hàng mua lại hàng hoá trừ những hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật; hoặc hạn chế về hình thức, số lượng hàng hoá được cung cấp. Nội dung của các điều kiện này một mặt không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng có nghĩa là những nội dung đó không phục vụ cho việc thực hiện hợp đồng, mặt khác còn có thể gây ra hậu quả hạn chế cạnh tranh. Lý thuyết cạnh tranh đều cho rằng các điều khoản trên được các doanh nghiệp đưa ra nhằm thực hiện chiến lược độc quyền hoặc chiến lược bóc lột thông qua việc thực hiện hành vi sau đây:

–                      Với chiến lược độc quyền, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền dùng khả năng thị trường của mình tạo sức ép cho khách hàng nhằm buộc họ phải thực hiện những yêu cầu nhất định nhằm tạo ra những rào cản cho đối thủ cạnh tranh tiềm năng hoặc gây khó khăn cho đối thủ hiện có, từ đó củng cố, duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Chiến lược này thường gắn liền với các điều kiện giới hạn thị trường, giới hạn nguồn sản phẩm sản xuất hoặc cung ứng, buộc khách hàng phải chấp nhận những nhà cung cấp được doanh nghiệp chỉ định….

–                      Chiến lược bóc lột thường được các doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để tối đa hoá lợi ích không phải từ hiệu quả kinh doanh mà từ sự tận dụng lợi thế của vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Chiến lược này không trực tiếp tác động đến giá cả của hàng hoá hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhưng lại có ảnh hưởng đến nguồn cung hoặc cầu hàng hoá, dịch vụ để đem đến lợi ích cho doanh nghiệp ở mức cao nhất. Thông thường chiến lược bóc lột thường gắn liền với các yêu cầu về việc hạn chế khách hàng mua lại, hạn chế thị trường, hạn chế số lượng hàng hoá được cung cấp…. Với những chiến lược kinh doanh nói trên, nhìn ở góc độ hẹp trong quan hệ hợp đồng, khách hàng của doanh nghiệp đã bị giới hạn khả năng ứng xử trong kinh doanh theo chiến lược mà doanh nghiệp vạch sẵn, các đối thủ của doanh nghiệp có thể phải gánh chịu những sự suy giảm sản lượng hoặc phải tăng chi phí cho việc xây dựng mạng lưới phân phối mới, từ đó rơi vào tình trạng bất lợi trong kinh doanh. Dưới góc độ rộng của thị trường, các chiến lược kinh doanh có thể làm thay đổi diện mạo của quan hệ cung cầu trên thị trường, làm giảm khả năng cung ứng sản phẩm cho thị trường một cách giả tạo để thu lợi ích cho doanh nghiệp. Như vậy, bản chất hạn chế cạnh tranh và sự phi lý của hành vi vi phạm không chỉ thể hiện ở chỗ các nguyên lý của thị trường bị xâm hại mà còn thể hiện ở chỗ những lợi ích không chính đáng mà doanh nghiệp được hưởng bằng cách xâm hại lợi ích của khách hàng và của cả cộng đồng(CIDA, sđd, tr 101-105; UNCTAD, sđd, tr 61-63.).

Thứ hai, các điều kiện được đưa ra phải là điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ. Cho đến nay, pháp luật cạnh tranh chưa giải nghĩa cụm từ điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng. Các từ điển Luật học chính thống của Việt Nam cũng chưa đưa ra định nghĩa về khái niệm này và khái niệm điều kiện ký kết hợp đồng. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa điều kiện là điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó; tiên quyết là cần phải có trước, được giải quyết trước thì mới có thể làm được việc khác(Viện Ngôn ngữ học, sđd, tr 311; 949.). Do đó, điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng có thể được hiểu là những yêu cầu được đưa ra mà khách hàng phải chấp nhận thì mới tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ. Nếu khách hàng không chấp nhận điều kiện đưa ra, doanh nghiệp sẽ không tiến hành đàm phán hoặc ký kết hợp đồng. Dấu hiệu này đã loại bỏ những trường hợp doanh nghiệp áp dụng các chế độ ưu đãi với các đại lý, nhà phân phối… nếu khách hàng chấp nhận các điều kiện hạn chế cạnh tranh ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Khoản 5 Điều 13 Luật Cạnh tranh. Ví dụ, các doanh nghiệp sản xuất dành chế độ chiết khấu, dành các khoản đầu tư cơ sở vật chất cho đại lý nếu họ chấp nhận chỉ phân phối sản phẩm của doanh nghiệp.

 b. Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định “buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng là hành vi gắn việc mua bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng với việc phải mua hàng hoá, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết thực hiện hợp đồng”.  Tương tự như hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ là việc đặt điều kiện tiên quyết sau đây trước khi ký kết hợp đồng, khi thực hiện hành vi này, doanh nghiệp cũng đặt ra điều kiện đối với khách hàng (doanh nghiệp khác) để ký kết hoặc thực hiện hợp đồng mua bán, hàng hóa, dịch vụ. Sự khác nhau giữa hai hành vi là những yêu cầu được doanh nghiệp đưa ra. Với hành vi buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng, doanh nghiệp đã bắt khách hàng phải mua thêm hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc từ người thứ ba được chỉ định hoặc phải thực hiệm thêm những nghĩa vụ nằm ngoại phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng. Như vậy, có hai vấn đề được đặt ra khi nghiên cứu và xác định hành vi này:

Một là, hành vi này đã hình thành nên các hợp đồng mua bán kèm. Hợp đồng mua bán kèm là loại hợp đồng mà ngoài đối tượng chính của việc mua bán, khách hàng phải chấp nhận mua thêm hàng hóa, dịch vụ khác hoặc thực hiện thêm những nghĩa vụ khác (đối tượng phụ). Đối tượng phụ của hợp đồng mua bán không phải là những nghĩa vụ đương nhiên phát sinh từ hợp đồng mua bán đối tượng chính. Cần phân biệt hợp đồng mua bán kèm với các trường hợp khuyến mại tặng kèm hàng hóa, dịch vụ. Trong hoạt động xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức tặng kèm hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng mua, bán hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Trong trường hợp này, khách hàng không phải trả tiền hoặc trả ít hơn đối với những sản phẩm được dùng để khuyến mại. Mặt khác, khách hàng có thể nhận (không nhận) sản phẩm được dùng để khuyến mại mà vẫn mua, bán được hàng hóa, dịch vụ với doanh nghiệp tổ chức khuyến mại. Ngược lại, trong các hợp đồng bán kèm, khách hàng bị buộc phải mua thêm sản phẩm phụ hoặc phải thực hiện thêm những nghĩa vụ phụ nếu muốn mua bán hàng hóa, dịch vụ với doanh nghiệp thực hiện hành vi.

Hai là, đối tượng chính và đối tượng phụ trong hợp đồng mua bán kèm không liên quan trực tiếp với nhau. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP giải nghĩa không liên quan trực tiếp là việc mua thêm hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện thêm những nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng. Do đó, có những trường hợp doanh nghiệp buộc khách hàng mua thêm hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện thêm những nghĩa vụ nhưng không là buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng nếu các đối tượng phụ là những hàng hóa, dịch vụ hoặc những nghĩa vụ đặc dụng để đối tượng chính của hợp đồng có thể phát huy tác dụng một cách tối ưu hoặc để cho việc sử dụng đối tượng chính được an toàn cho người dử dụng và cho xã hội. Nói cách khác, nếu không có đối tượng phụ thì đối tượng chính của hợp đồng mua bán không thể sử dụng, không thể phát huy tác dụng một cách tốt nhất. Như vậy, tùy từng vụ việc cụ thể, các bên liên quan và cơ quan có thẩm quyền cần chứng minh sự liên quan giữa đối tượng chính và đối tượng phụ của hợp đồng mua, bán kèm. Nếu chứng minh được rằng không có đối tượng phụ, hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chính vẫn có thể sử dụng theo đúng chức năng thì kết luận giữa chúng không có liên quan trực tiếp với nhau.