Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành điện niêm yết

a. Tăng trưởng kinh tế – lạm phát: Trước thời điểm khi nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng kinh tế 2008, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế luôn ở mức cao : bình quân giai đoạn 2005-2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,42%. Với tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới đến nền kinh tế Việt Nam đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế bị suy giảm mạnh và xuống đáy ở mức 5,23% năm 2009. Tuy nhiên, với sự nỗ lực cố gắng cao trong điều hành nền kinh tế với các giải pháp hiệu quả trong việc kết hợp điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã có sự cải thiện với mức bình quân giai đoạn 2012-2017 là 6,05%. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này vẫn chậm và thấp hơn so với giai đoạn trước khủng hoảng và điều này đã hạn chế các DN trong việc sử dụng nguồn tài trợ từ nợ vay của các DN trong nền kinh tế nói chung và các CTCP ngành điện niêm yết nói riêng. Giai đoạn 2012-2017 cho thấy một bối cảnh kinh tế với tình trạng lạm phát ở mức thấp: tỷ lệ lạm phát giảm mạnh từ mức 6,83% năm 2012 xuống còn 0,63% năm 2015 và tăng nhẹ lên mức 3,53% năm 2017.

Tình trạng lạm phát ổn định xuất phát từ lý do sự ổn định đối với nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước, sự giảm mạnh đối với giá nhiên liệu trên thị trường thế giới đặc biệt là giá dầu thô kéo theo sự giảm giá đối với giá xăng, dầu trong nước và sự giảm giá đối với nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng và giao thông. Sự ổn định về tỷ lệ lạm phát là tiền đề quan trọng cho các DN ngành điện niêm yết được tiếp cận với các khoản nợ vay với chi phí thấp trên thị trường tài chính.

b. Tình hình chính trị và chính sách của Nhà nước : Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nền thể chế chính trị ổn định và hệ thống pháp luật, chính sách đối với ngành điện niêm yết đang dần được hoàn hiện theo hướng thúc đẩy sự phát triển của thị trường điện cạnh tranh. Quy hoạch ngành điện đã đưa ra mục tiêu về tổng nhu cầu vốn đầu tư cho ngành điện đến năm 2020 khoảng 929,7 nghìn tỷ đồng ( tương đương 48,8 tỷ USD, trung bình mỗi năm cần khoảng 4,88 tỷ USD). Trong đó, đầu tư vào ngành điện giai đoạn 2011- 2017 là 619,3 nghìn tỷ đồng; đầu tư vào lưới điện là 210,4 nghìn tỷ đồng. Ngoài ra, quy hoạch ngành điện cũng đưa ra những giải pháp nhằm huy động vốn cho các DN ngành điện niêm yết bao gồm: gia tăng khả năng huy động từ nguồn tài chính nội bộ từ lợi nhuận giữ lại tái đầu tư; tăng cường huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trong và ngoài nước để đầu tư cho các công trình điện năng; tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn viện trợ nước ngoài.

c. Mức độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế : Việt Nam hiện đang hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới. Điều này tạo thuận lợi cho CTCP ngành điện niêm yết trong việc tiếp cận các khoản vay ưu đãi từ nguồn viện trợ nước ngoài với quy mô lớn. Điển hình là các DN quy mô lớn như : KHP được EVN cho vay lại từ WorldBank với lãi suất cho vay bình quân là 2,7% ; NT2 được Citibank bảo lãnh vay vốn bằng USD và EURO với lãi suất cho vay bình quân là 0,55% ; PPC được EVN cho vay lại từ NH Hợp tác Quốc tế Nhật Bản với lãi suất cho vay bình quân là 2,5% ; VSH được VDB Phú Yên bảo lãnh cho vay bằng USD với lãi suất cho vay bình quân là 0,95%.

d. Triển vọng thị trường vốn Việt Nam: Thị trường vốn Việt Nam kể từ khi hình thành đã là kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế và là kênh huy động vốn quan trọng cho các công ty cổ phần ngành điện niêm yết ở Việt Nam. Trong giai đoạn 2012-2017, những DN đã tận dụng ưu thế của thị trường vốn mà đặc biệt là thị trường chứng khoán để gia tăng quy mô vốn điểm hình như CHP tăng vốn điều lệ từ 1.003.471 triệu đồng lên 1.200.000 triệu đồng năm 2012 ; tăng vốn điều lệ từ 1.200.000 triệu đồng lên 1.295.995 triệu đồng năm 2015.

e. Lãi suất bình quân trên thị trường: Tại thời điểm cuối năm 2011, thị trường tiền tệ đã có sự ổn định sau giai đoạn biến động kể từ năm 2008 với mức lãi suất cho vay bình quân của các NHTM là 15,5%/năm đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường. Điều này gây ra sự khó khăn cho các DN trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Trong những năm tiếp theo lãi suất bình quân giảm mạnh từ mức 14,28% năm 2013 xuống còn 10,80% năm 2014 và xuống 10,15% năm 2015. Điều này đã tác động làm cho các công ty cổ phần ngành điện niêm yết gặp thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các NHTM để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh.

f. Thuế suất thuế thu nhập DN : Thuế suất thuế thu nhập DN hiện đang có chiều hướng giảm dần : từ mức 28% trước năm 2009 xuống còn 25% năm 2014 và hiện nay ở mức 20%. Theo lý thuyết M&M, việc sử dụng nợ vay sẽ đem lại lợi ích cho các DN từ tấm lá chắn thuế từ lãi vay. Tuy nhiên, theo lý thuyết đánh đổi, việc sử dụng nợ vay phải cân nhắc giữa lợi ích được hưởng từ tấm lá chắn thuế từ lãi vay và chi phí kiệt quệ tài chính hoặc nguy cơ phá sản do việc sử dụng nợ vay.