Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành điện niêm yết

Quy mô kinh doanh: Phân tích thực trạng quy mô kinh doanh của các CTCP ngành điện niêm yết cho thấy nhóm DN quy mô lớn gặp thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn tài trợ từ nợ vay hơn rất nhiều so với nhóm DN quy mô nhỏ và quy mô trung bình. Bình quân giai đoạn nghiên cứu, quy mô nợ vay của nhóm DN quy mô lớn là 14.972.472 triệu đồng; nhóm DN quy mô trung bình là 2.402.955 triệu đồng và nhóm DN quy mô nhỏ là 769.772 triệu đồng. Trên thực tế, nhóm DN quy mô lớn gặp thuận lợi trong việc đa dạng hoá hoạt động đầu tư và dùng những tài sản là những công trình sản xuất điện năng làm tài sản thế chấp cho các khoản nợ vay nên việc huy động vốn từ nợ vay dễ dàng hơn. Ngành điện niêm yết hiện đang được giám sát chặt chẽ từ các cơ quan tổ chức tài chính chuyên nghiệp trong và ngoài nước vì đây là ngành có tính nhạy cảm cao đối với hoạt động kinh tế của các ngành nghề kinh tế khác nên các DN có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là các DN quy mô lớn. Điều này, làm cho vấn đề thông tin bất đối xứng được giảm thiểu mạnh đối với các DN ngành điện niêm yết đặc biệt là nhóm CTCP quy mô lớn, bởi vậy xu hướng vay nợ từ nhóm DN này có chiều hướng giảm sút mạnh: hệ số nợ vay của nhóm DN quy mô lớn giảm mạnh từ 64,42% năm 2012 xuống còn 30,45% năm 2017; trong khi đó hệ số nợ vay của nhóm DN quy mô trung bình và quy mô nhỏ duy trì khá ổn định ở mức bình quân lần lượt là 36,21% và 25,21%.

Cấu trúc tài sản: Hiện nay tỷ trọng tài sản dài hạn của các CTCP ngành điện niêm yết khá cao với tỷ lệ bình quân là 64,15% trên tổng tài sản. Hầu hết những tài sản này là các tài sản cố định hữu hình bao gồm các công trình, dự án sản xuất điện năng (các nhà máy Thuỷ điện, Nhiệt điện). Quy mô tài sản hữu hình ở mức cao sẽ giúp các DN có thể dùng chính những tài sản này làm tài sản đảm bảo để thế chấp đối với các khoản nợ vay trong tương

Khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán của các DN ngành điện niêm yết thuộc cả 3 nhóm quy mô lớn, trung bình và nhỏ đều ở mức cao. Bình quân giai đoạn nghiên cứu, hệ số KNTT hiện thời là 2,13 lần và hệ số KNTT nhanh là 1,93 lần. Với khả năng thanh toán cao các DN ngành điện có thể dùng chính những tài sản có tính thanh khoản cao để đầu tư vào các công trình, dự án phát sinh nhằm tận dụng được nguồn vốn nội sinh với chi phí thấp. Thực tiễn phân tích cơ cấu nguồn vốn theo phạm vi huy động và sử dụng vốn cũng cho thấy quy mô và tỷ trọng nguồn vốn bên trong tăng trưởng mạnh trong giai đoạn nghiên cứu tăng từ mức 3.099.269 triệu đồng năm 2012 lên 7.711.803 triệu đồng năm 2014 và duy trì ổn định ở mức bình quân là 7.780.423 triệu đồng trong giai đoạn 2014-2017

Chi phí sử dụng nợ vay: Chi phí sử dụng nợ vay của các CTCP ngành điện Việt Nam tương đối thấp. Chi phí nợ vay đặc biệt thấp đối với nhóm CTCP quy mô lớn, điển hình là các DN như NT2 (dao động từ 2,08% đến 2,63%); PPC (dao động từ 2,45% đến 2,47%) và BTP (dao động từ 3,55 đến 7,10%). Những DN này thuộc nhóm được hưởng ưu đãi đặc biệt từ các khoản vay do EVN thay mặt Chính phủ Việt Nam ký kết với Chính phủ quốc tế do đây là các DN trước khi cổ phần hoá là nhóm DN trực thuộc EVN với quy mô vốn lớn, có nhiệm vụ, vị trí quan trọng đối với hoạt động sản xuất điện năng. Chi phí sử dụng nợ vay thấp là cơ sở để các DN tận dụng ưu thế của đòn bẩy tài chính nhằm gia tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của DN

Hiệu quả hoạt động kinh doanh: Qua việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh được phản ánh qua các chỉ tiêu ROA, ROE, ROS và BEP nhận thấy hiện nay hiệu quả kinh doanh đang có chiều hướng tăng mạnh trong giai đoạn 2012-2014 và giảm sút trong giai đoạn 2014-2017; cùng với đó quy mô và tỷ trọng nợ vay cũng có sự giảm sút từ mức 23.342.650 triệu đồng năm 2012 xuống còn 10.014.094 triệu đồng năm 2017; như vậy có thể nhận thấy điều này có sự phù hợp với lý thuyết đánh đổi khi cho rằng hiệu quả kinh doanh tạo ra sự bất an đối với các nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định tài trợ vốn; hiệu quả kinh doanh ở mức thấp cũng có thể làm cho lợi ích của “khoản lợi thuế” từ lãi vay bị giảm trừ bởi chi phí kiệt quệ tài chính.

Triển vọng tăng trưởng: Qua phân tích quy mô kinh doanh của các DN cho thấy quy mô doanh thu thuần có sự tăng trưởng mạnh từ mức 15.919.756 triệu đồng năm 2012 lên 23.840.542 triệu đồng năm 2017. Mối quan hệ giữa triển vọng tăng trưởng và cơ cấu nguồn vốn của các CTCP ngành điện niêm yết có sự phù hợp với lý thuyết chi phí đại diện. Khi triển vọng tăng trưởng có xu hướng gia tăng, các DN ngành điện sẽ tập trung đổi mới máy móc trang thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng lực sản xuất điện năng cho nền kinh tế. Những dự án đầu tư sẽ có triển vọng mang lại tỷ suất sinh lời cao bao gồm các nhà máy Thuỷ điện và nhà máy Nhiệt điện. Như vậy, việc lựa chọn sử dụng nguồn vốn sẽ thiên về sử dụng vốn chủ sở hữu hơn để đảm bảo lợi ích của cổ đông hiện hành không bị di chuyển quá nhiều sang phía chủ nợ.

Rủi ro kinh doanh: Ngành điện niêm yết là ngành có rủi ro kinh doanh ở mức cao. Đối với các DN Nhiệt điện, nguồn nhiên liệu từ than đá, khí, dầu mỏ đang bị cạn kiệt do quá trình khai thác thiếu bền vững và đang phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đối với các DN Thủy điện, lượng nước từ các sông Thủy điện chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện thời tiết mà điển hình là từ 2 hiện tượng là El Nino và La Nina. Trong điều kiện thuận lợi, lượng nước đổ vào các sông Thuỷ điện tăng cao làm cho sản lượng điện sản xuất gia tăng sẽ góp phần làm gia tăng lợi nhuận kinh doanh và ngược lại. Như vậy, lợi nhuận kinh doanh của các DN Thuỷ điện luôn có sự dao động thất thường mà phụ thuộc vào sự biến động của điều kiện thời tiết. Với mức rủi ro kinh doanh cao sẽ là nhân tố cản trở các DN trong việc tiếp cận nguồn vốn từ nợ vay vì khả năng thu hồi nợ gốc và lãi vay phụ thuộc vào kết quả hoạt động mà kết quả hoạt động của các DN lại có sự dao động mạnh. Ngoài ra, với quy hoạch ngành điện theo xu hướng xây dựng thị trường buôn bán điện cạnh tranh hoàn toàn sẽ tạo sự gia tăng về mức độ cạnh tranh giữa các đơn vị cung cấp điện năng.

– Đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của ngành điện niêm yết:

Quy mô và cơ cấu đầu tư vào tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng cao: Do tính chất hoạt động của các DN sản xuất điện năng là cần phải đầu tư một lượng vốn cho những tài sản quy mô lớn là những tài sản cố định bao gồm các công trình, nhà máy sản xuất điện năng, hệ thống vận hành truyền tài điện năng… Đặc điểm này quyết định nguồn vốn huy động của các DN chủ yếu là nguồn vốn dài hạn bao gồm nợ vay dài hạn và vốn chủ sở hữu. Phân tích thực trạng cơ cấu nguồn vốn theo thời gian huy động và sử dụng vốn cho thấy bình quân nguồn vốn dài hạn chiếm tỷ trọng là 93% trong giai đoạn nghiên cứu.

Nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng đang có xu hướng cạn kiệt: Nguồn nhiên liệu sản xuất điện năng từ than đá, khí đốt, dầu mỏ đối với DN Nhiệt điện đang cạn kiệt do quá trình khai thác thiếu kiểm soát. Hiện nay, Việt Nam đang phải nhập khẩu than đá, khí đốt và dầu mỏ từ nước ngoài. Điều này làm gia tăng chi phí đối với việc sản xuất điện năng làm cho lợi nhuận kinh doanh bị giảm xuống. Nguồn nhiên liệu từ sức nước đối với các nhà máy Thuỷ điện cũng đang biến động bất thường do biến động của điều kiện khí hậu. Sản lượng điện sản xuất của các DN Thuỷ điện chịu ảnh hưởng lớn từ lưu lượng nước đổ vào các sông Thuỷ điện.

Ngành điện niêm yết là một ngành có tính ổn định cao so với chu kỳ kinh tế: Điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt mà việc thiếu hụt hàng hoá này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Việc thiếu điện sẽ làm cho hoạt động kinh doanh bị đình trệ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng sản xuất và DN của các ngành nghề, lĩnh vực. Bởi vậy, ngành điện niêm yết ít chịu tác động từ các cú sốc kinh tế. Doanh số bán điện của các DN ít chịu tác động của sự tăng trưởng và suy thoái kinh tế. Hoạt động sản xuất mang tính ổn định là một lợi thế rất lớn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư dài hạn đối với các DN từ các nhà đầu tư trên thị trường tài chính.

Ngành điện niêm yết hiện đang được hỗ trợ bởi Nhà nước: Do tính chất vai trò chiến lược của ngành điện nói chung và ngành điện niêm yết nói riêng đối với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia nên ngành điện niêm yết luôn nhận được sự quan tâm, ưu đãi đặc biệt từ phía chủ thể Nhà nước trong quá trình phát triển. Đặc biệt, Nhà nước đang chủ trương cao trong việc thực hiện xây dựng thị trường buôn bán điện cạnh tranh nên để đạt được mục tiêu nay, nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ từ phía Nhà nước đã được triển khi manh đến các DN bao gồm: hỗ trợ các DN trong việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước với chi phí thấp; tạo điều kiện cho các DN thuê đất với giá rẻ trong thời gian dài; giảm thuế thu nhập DN đối với các DN quy mô trung bình và quy mô nhỏ… Chi phí sử dụng vốn của các DN ngành điện niêm yết được giảm thiểu do các DN phần lớn được sử dụng các khoản nợ vay với chi phí thấp.