Những ảnh hưởng của các học thuyết thuế cổ điển và hiện đại đối với quá trình phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam

 

Có thể khẳng định rằng sự ra đời của các học thuyết cổ điển cũng như hiện đại về thuế trên thực tế đã có những tác động quan trọng đến quá trình hình thành, phát triển và vận hành của các hệ thống thuế trên thế giới.

Đối với Việt Nam, tất cả những gì chúng ta đã chứng kiến về hệ thống thuế trong thời kì nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và những cải cách thuế gần đây khi chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường đã cho thấy những bằng chứng về sự ảnh hưởng của các học thuyết thuế cổ điển cũng như hiện đại đến quá trình hình thành và phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam.

Một cách khái quát, dù chưa có những thay đổi lớn về quan điểm tiếp cận trong chính sách thuế hiện nay nhưng những ảnh hưởng của các học thuyết thuế đến hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Sự ảnh hưởng này được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, sự truyền bá các học thuyết thuế cổ điển và hiện đại đã trở thành hiện thực ở Việt Nam trong hơn mười năm trở lại đây. Ngày nay, các tài liệu nghiên cứu chính thống về lĩnh vực thuế của nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới đã và đang được lưu hành rộng rãi ở Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau. Đây chính là bằng chứng thể hiện sự tác động của các học thuyết thuế đối với tiến trình đổi mới và cải cách toàn diện nhưng đầy khó khăn thử thách của Việt Nam sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, sự ảnh hưởng rõ ràng nhất của các học thuyết thuế đến hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam có lẽ là những ảnh hưởng đối với quá trình cải cách thuế, đặc biệt là cải cách hành chính thuế theo hướng cải thiện dần mối quan hệ nhạy cảm giữa nhà nước với người nộp thuế. Đã từ lâu, người ta vẫn quan niệm rằng thuế giống như là nghĩa vụ “bất khả tránh” đối với mọi công dân và tổ chức, rằng quan hệ thuế là quan hệ hành chính mà ở đó Nhà nước là người có “quyền” thu thuế, còn các tổ chức, cá nhân là người có “nghĩa vụ” đóng thuế, bất luận thái độ và tâm lí của người nộp thuế ra sao. Quan niệm này đã dẫn đến tình trạng không bình thường của xã hội dân sự – đó là tình trạng không bình đẳng giữa Nhà nước với công dân, theo đó Nhà nước có thể tự ý xây dựng các chính sách thuế có lợi cho mình nhiều hơn và bất lợi cho những người đóng thuế nhiều hơn, dù rằng về nguyên tắc, các chính sách thuế của Chính phủ đều do Quốc hội với tư cách là đại diện nhân dân biểu quyết thông qua. Ngày nay, những đổi mới trong cách tiếp cận dưới tác động của các học thuyết thuế hiện đại đã làm cho chính sách thuế hiện hành ở Việt Nam có nhiều điểm tiến bộ, phù hợp hơn với xu hướng phát triển chung của các chính sách thuế đương đại. Đáng kể nhất đó là việc ban hành Luật quản lí thuế năm 2006 theo hướng giảm dần tính mệnh lệnh hành chính trong quan hệ thuế và trao quyền chủ động nhiều hơn cho người nộp thuế trong việc thi hành nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Đặc biệt, việc ghi nhận trong luật pháp về quyền đối kháng của người nộp thuế (bao gồm quyền khiếu nại và khởi kiện về thuế đối với cơ quan thuế) cũng như nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước cho người nộp thuế khi họ bị thiệt hại do hành vi thu thuế không đúng luật của cơ quan thuế chính là bằng chứng thể hiện sự ảnh hưởng của học thuyết thuế-trao đổi đối với tiến trình cải cách hành chính thuế ở Việt Nam.

Thứ ba, trong chính sách thuế hiện hành ở Việt Nam, nghĩa vụ thuế được quy định không phải theo xu hướng “cào bằng” mà có sự phân biệt giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp và người không có thu nhập theo hướng người có khả năng tài chính tốt hơn sẽ phải đóng thuế nhiều hơn (9). Quy định này đã phần nào phản ánh đúng quan điểm chủ đạo của học thuyết thuế-bù đắp, nghĩa là kêu gọi sự sẻ chia, giúp đỡ của những người có khả năng đóng thuế cho những người không có khả năng đóng thuế trên tinh thần đoàn kết xã hội và tương trợ cộng đồng./.
(9) Có thể thấy rõ quan điểm này trong các quy định hiện hành về đối tượng nộp thuế và thuế suất của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế thu nhập cá nhân hay Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.