Những ảnh hưởng lớn đối với chiến lược Marketing quốc tế (IMS)

 

Theo các tác giả Marketing quốc tế nói chung và V.H. Kirpalini nói riêng, có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chiến lược Marketing quốc tế. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh trước hết 4 tác động lớn là: Chính phủ, công ty xuyên quốc gia hay đa quốc gia, thị trường và công nghệ.

2.1. ảnh hưởng của Chính phủ đối với IMS

Chính phủ đóng vai trò can thiệp tích cực vào các hoạt động kinh tế, phục vụ đăc lực cho các tập đoàn tư bản, cho nên thường xuyên ảnh hưởng lớn, IMS, đơn cử như:

– Chính phủ hoạch định cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân, do đó chi phối sâu sắc cơ cấu kinh tế quốc tế. Việc hoạch định này thông qua một loạt biện pháp đặc biệt như: luật khuyến khích hay, hạn chế đầu tư bằng việc điều chỉnh lãi suất ngân hàng cho vay; luật chiết khấu quy định thời gian khấu hao máy móc, thiết bị, luật thuế, luật đất đai . . . Mỹ là nược điển hình trong việc đưa ra các đạo luật liên bang để hoạch định cơ cấu phát triển công nghiệp theo sự điều tiết kinh tế của Chính phủ.

– Chính phủ chủ động tham gia vào các khối kinh tế- thương mại khu vực và quốc tế như EU NAFTA, ASEAN, IMF, WB ,GATT, WTO… nhằm tạo môi trường chính trị và pháp luật thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng mở rộng thị trường xuất khẩu, thúc đẩy chiến lược Marketing quốc tế phát triển.

– Chính phủ trực tiếp kí các hiệp định kinh tế, thương mại song phương và đa phương, trực tiếp thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế. Như vậy, Chính phủ đóng vai trò ngày càng tích cực vào hệ thống chiến lược Marketing quốc tế.

– Chính phủ ban hành các chính sách thương mại quốc tế, theo đó xác định các quy chế đãi ngộ khác nhau đối với các doanh nghiệp nước ngoài tuỳ thuộc quan hệ đối tác, như quy chế Tối huệ quốc (MFN), Thương mại thông thường , Ưu đãi chung v. v. . . Như vậy, việc buôn bán hạn chế hay tự do, mức thuế nhập khẩu cao hay thấp đều chi phối sâu sắc chiến lược Marketing quốc tế của doanh nghiệp.

2.2. ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đối với chiến lược Marketing quốc tế

Chúng ta đã biết, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) là những doanh nghiệp khởi xướng và đóng vai trò quyết định sự phát triển của thương mại quốc tế. Các TNCs còn được mệnh danh là đội quân xung kích của toàn cầu hoá, và hội nhập kinh tế quốc tế, là những “đế chế” kinh tế khổng lồ của thế giới hiện nay [11]. Thực vậy, doanh số của công ty đứng đầu thế giới năm 2002 là Wal Mart Stores (Mỹ) đã lên tới 246,53 tỷ USD. Trong khi đó, GDP của Việt Nam năm 2002, chỉ đạt gần 35 tỉ USD, bằng 1/7 doanh số của một công ty Mỹ . [12]
Hiện nay, TNCs đang kiểm soát trên 64% thương mại toàn cầu và trên 90% công nghệ của thế giới th ông qua các chiến lược Marketing.
V. H. Kirpalani đã nhấn mạnh 3 nhóm chiến lược của TNCs theo các lĩnh vực sau:

– Chiến lược tìm kiếm nguồn tài nguyên. Với mục đích này, nhiều công ty hướng hoạt đông kinh doanh của mình vào lĩnh vực khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác (như đồng, sắt, chì, vàng, bạc . . . ) các loại nông lâm và thuỷ sản.

– Chiến lược tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Điều kiện nghiêm ngặt của các nhà sản xuất là tiêu thụ sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) theo quy luật sản xuất và tiêu dùng. Do vậy, hàng loạt TNCs thường xuyên chú trọng việc mở rộng thị trường xuất khẩu trên quy mô toàn cầu, đặc biệt là việc mở rộng thị trường sang các nước đang phát triển. Khoa học – công nghệ càng phát triển thì chiến lược tìm kiếm thị trường càng trở thành vấn đề sống còn để mở rộng quy mô sản xuất.

– Chiến lược tìm kiếm hiệu quả kinh doanh. Theo mục đích này, nhiều công ty lại muốn hướng hoạt động của mình vào các nước phát triển (OECD), nơi có môi trường kinh doanh hấp dẫn nhất, như hạ tầng cơ sở khá đầy đủ, pháp luật, ổn định, công nghệ thông tin phát triển . . . Vì vậy các TNCs có thể đầu tư kinh doanh dễ dàng, thời gian hoàn vốn rất nhanh, suất lợi nhuận hấp dẫn và an toàn.

2.3. ảnh hưởng của công nghệ đối với chiến lược Marketing quốc tế

Theo V. H. Kirpalani cũng như nhiều tác giả khác, khoa học càng phát triển, công nghệ càng đáp ứng tốt hơn các cơ hội thị trường rất đa dạng về số lượng, chất lượng, kiểu dáng,. . . Công nghệ thoả mãn kịp thời các chính sách khuyết khích của chính phủ theo hướng ưu đãi đặc biệt những ngành công nghiệp hiện đại (điện tử, thông tin, sinh học, vũ trụ. . . ).

Bản thân công nghệ, như “đôi đũa thần kỳ diệu”, đã đáp ứng được nhanh chóng các định hướng phát triển sản phẩm thị trường của TNCs theo các hướng tập trung hoá và đa dạng hoá một cách năng động hơn. Đặc biệt ngày nay, công nghệ hiện đai cho phép khai thác tối ưu mọi lợi thế của thị trường toàn cầu nhằm mang lại cho TNCs doanh số và lợi nhuận hấp dẫn nhất. Điều đó giải thích tại sao TNCs là đội quân tiên phong trong xu thế toàn cầu hoá nhằm chiếm lĩnh thị trường toàn cầu.
Phân tích trên cho thấy rõ hơn ảnh hưởng của công nghệ, lực lượng sản xuất trực tiếp và cũng là sức mạnh của TNCs đối với chiến lược Marketing quốc tế của bản thân doanh nghiệp.

2.4. ảnh hưởng của thị trường đối với chiến lược Marketing quốc tế

Như đã nghiên cứu ở chương 3, thị trường trong Marketing quốc tế là tập hợp những người nước ngoài đang mua và sẽ mua sản phẩm.

Theo phân đoạn thị trường, tập hợp những người nước ngoài mua sản phẩm này có thể là:

– Một phân đoạn chủ yếu duy nhất (như Mercedes chỉ hướng vào nhóm khách hàng thượng lưu nước ngoài thuộc lĩnh vực ô tô).
– Một số phân đoạn (như số đông doanh nghiệp Trung Quốc xuất khẩu dệt may vào Tây Âu và Mỹ, thường thoả mãn nhu cầu của tầng lớp bình dân, trung lưu hoặc trung lưu lớp trên).
– Tất cả các phân đoạn, nghĩa là phủ kín toàn bộ thị trường.

Hãng Toyota xuất khẩu ô tô thường xuyên thoả mãn nhu cầu của các nhóm khách hàng Bắc Mỹ và EU như: tầng lớp bình dân, tầng lớp trung lưu, tầng lớp thượng lưu và tầng lớp tiêu dùng ô tô thể thao.

Về phương diện địa lý, tập hợp những người nước ngoài mua sản phẩm có thể ở những cấp độ sau:

– Một vài nước láng giềng,
– Phần đông các nước trong vùng hay tiểu khu vực (Đông Đông Nam á),
– Hầu hết các nước của khu vực hay Châu lục (Châu á, Châu Mỹ),
– Các nước ở một số Châu lục (thị trường các nước Châu á và châu Âu),
– Phần đông các nước trên khắp thế giới (toàn cầu).

Những phân tích trên cho thấy, thị trường trong marketing quốc tế được mở rộng và đa dạng hoá theo theo vùng địa lý. Như vậy, chiến lược Marketing quốc tế, do tác động trực tiếp của thị trường, cũng trở nên phức tạp hơn nhiều vì nó bao trùm trên phạm vi địa lý rất rộng mà điển hình trên quy mô toàn cầu. Chiến lược marketing quuốc tế, do phạm vi thị trường, đương nhiên phải đụng chạm đến rất nhiều nền văn hoá khác nhau, theo sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, lối sống, tập tính tiêu dùng.