Những áp lực thay đổi tổ chức của doanh nghiệp

1. Khoa học công nghệ

Nhiều thay đổi lớn trong công việc bắt nguồn từ những phát triển khoa học và công nghệ.

-Tốc độ thiết kế hoặc hiện đại hóa sản phẩm.

Trong các ngành công nghiệp như ô tô, viễn thông, hàng điện tử công nghiệp và tiêu dùng… là những ngành công nghiệp chịu nhiều sức ép. Vì thế những phát triển nhanh và mới đã mở ra các thành tựu công nghệ bộc lộ rất rõ khoảng cách giữa các công ty cấu trúc cũ và công ty cấu trúc mới. Những công ty có cấu trúc mới đáp ứng cho thị trường nhanh hơn. Chẳng hạn, trong khi các công ty ô tô Mỹ và Tây Âu cần 3 triệu giờ kỹ thuật và 60 tháng để sản xuất sản phẩm mới hoàn hảo, thì ô tô mới của Nhật chỉ cần 1,7 triệu giờ kỹ thuật và 47 tháng. Công ty AT & T cần 36 tháng để thiết kế và marketing các sản phẩm điện thoại mới, trong khi các đối thủ Pacific Rim chỉ cần 18 tháng, thậm chí 12 tháng. Phát triển  chậm cũng tức là phải chịu chi phí cao, nếu nhanh chóng cho ra sản phẩm mới thì doanh nghiệp sẽ khai thác được công nghệ mới hơn và có thể điều khiển lợi nhuận ở thị trường.

-Tính năng đang dạng của sản phẩm và dịch vụ.

Trước sức ép của thị trường, doanh nghiệp nào cũng phải cắt giảm chi phí, giảm hàng dự trữ trong kho. Với cấu trúc như cũ, sự đa dạng sẽ rất tốn kém, đồng thời cân đối giữa chi phí và đa dạng hóa là vấn đề không dễ dung hòa. Ngày nay, dù sức ép thị trường có mạnh hơn cũng vẫn phải tăng tính đa dạng để đáp ứng các ngóc ngách của thị trườn, cơ hội khách hàng đặt mua riêng và nhu cầu của địa phương khác nhau.

2. Tiêu chuẩn chất lượng cao nhất

Tiêu chuẩn này đang trở nên một đặc điểm hàng hóa trong nhiều sản phẩm. Người ta hay nói đến các sản phẩm “trình độ thế giới”. Những đòi hỏi chất lượng tối thiểu của các sản phẩm hiện đại thường vượt các yêu cầu mà cách đây chưa lâu được coi như chất lượng “lý tưởng” chỉ có ở phòng thí nghiệm. Hiện nay các hóa chất trong công nghiệp không thua kém hóa chất trong ngành thí nghiệm.

3. Các chu trình giao hàng ngắn hơn

Sản xuất theo phương pháp kịp thời đúng lúc (JIT) đã được đẩy lên một khuynh hướng chung: mọi hàng hóa hiện nay cần đưa đến thị trường sớm hơn trước kia ít ra là vài năm. Giao nhận nhanh của Federal Express là một ví dụ. Đối với các dịch vụ fax cũng vậy, chứng tỏ mong muốn của khách hàng đối với các phục vụ “hãy làm nhanh lên”. Ví dụ: thay dầu nhớt xe ô tô chỉ 25 phút hoặc dịch vụ cầm cố 145 phút của Citi bank.

4. Đơn đặt hàng nhỏ, ngày giao tin cậy

Đơn hàng nhỏ để nhận hàng liên tục hơn nhằm giảm bớt dự trữ, từ đó giảm chi phí. Dự trữ quay vòng là một biện pháp của khuynh hướng này. Quay vòng hàng hóa ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giỏi không phải là một con số thấp mà là hai con số cao. Hơn thế, một số doanh nghiệp còn có hàng “dự trữ âm”,  thậm chí đã bán hàng trước khi giao. Cần chú ý là nếu dự trữ quá ít có thể bị thiếu hàng, vì thế rất cần các kênh cung cấp tin cậy. Những công ty có cấu trúc cũ tuy đã cân đối giữa tốc độ và chi phí, giữa chất lượng và sự đa dạng, giữa trách nhiệm và sự kiểm soát. Nhưng do cấu trúc không gọn, phản ứng chậm nên dễ bị tấn công trước các đối thủ mềm mại và luôn năng động.

Trong môi trường cạnh tranh nhiều thay đổi, sự ổn định và những điểm mạnh của những cấu trúc cũ đã chuyển thành những điểm yếu dễ bị tấn công, cho nên nhược điểm của những doanh nghiệp chậm thay đổi cấu trúc tổ chức là dễ bị đối thủ khai thác.