Những biện pháp chủ yếu hoàn thiện thị trường nông nghiệp Việt Nam

Cùng với quá trình đổi mới kinh tế đất nước từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay, sự vận động phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dần từng bước sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường trong nông nghiệp là cung, cầu, gía cả các yếu tố đầu vào của sản xuất và đầu ra của sản phẩm từng bước hình thành và chịu sự chi phối ngày càng nhiều hơn của các qui luật kinh tế thị trường. Xuất phát từ đường lối xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, tham gia vào thị trường nông nghiệp hiện nay gồm có các doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, các hộ nông dân được giao đất sử dụng lâu dài, các hình thức kinh tế tư nhân. Mặt khác, với chủ trương xây dựng nền kinh tế hướng ngoại, mở cửa và hội nhập, nền nông nghiệp Việt Nam cần phải nhanh chóng hội nhập vào nền nông nghiệp quốc tế và khu vực.

Đáp ứng những xu hướng phát triển hợp qui luật nói trên, để góp phần hoàn thiện thị trường nông nghiệp Việt Nam trong một khoảng thời gian đã định theo các hiệp ước giữa nước ta với các nước khác, cần coi trọng một số biện pháp chủ yếu sau đây:

1.   Nhanh chóng xây dựng hệ thống thị trường đồng bộ cho nông nghiệp, nông thôn.

Từng bước nhanh chóng hình thành đầy đủ hệ thống đồng bộ các thị trường trong nông nghiệp nông thôn, gồm thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm, trong đó quan trọng nhất là thị trường vốn, thị trường dịch vụ kỹ thuật và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

– Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường vốn là thị trường quan trọng nhất của hệ thống thị trường nông nghiệp nông thôn. Sự hoạt động có hiệu quả và ổn định của thị trường vốn có ý nghĩa đặc biệt to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và giải quyết những vấn đề xã hội trong nông thôn. Với việc đổi mới ngành Ngân hàng và xây dựng hệ thống ngân hàng Thương mại chuyên ngành trong nông thôn, ưu điểm cơ bản của việc hình thành và phát triển thị trường vốn tín dụng trong nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay là:

+ Hình thành đa dạng các loại hình ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng theo mục tiêu, gồm Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng phục vụ người nghèo v.v…

+ Hệ thống các quĩ tín dụng nhân dân ở nông thôn từng bước hình thành đáp ứng nhu cầu huy động và sử dụng vốn tại chỗ trong dân cư.

+ Nạn cho vay nặng lãi đã từng bước bị khống chế .

+ Ngành Ngân hàng đã từng bước thực hiện tốt nhiệm vụ cho vay đối với kinh tế hộ nông dân. Theo tài liệu điều tra năm 1994, doanh số cho vay kinh tế hộ nông dân của các Ngân hàng Nông nghiệp chiếm tới trên 70% ở Ngân hàng cấp tỉnh và 90% ở Ngân hàng cấp huyện.

+ Lãi suất cho vay và nhận gửi trên thị trường vốn tín dụng từng bước chịu tác động của cung cầu trên thị trường. Tình trạng lãi suất thực âm về cơ bản đã bị xoá bỏ góp phần lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng ở nông thôn.

Nhược điểm cơ bản hiện nay là hộ nông dân thường rất khó vay hoặc không vay được các món vay lớn và dài hạn từ ngân hàng. Điều này đã gây khó khăn lớn cho việc đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

–   Thị trường dịch vụ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu về các yếu tố vật tư kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp như các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc tổng hợp, máy móc nông cụ v.v… và nhu cầu về các dịch vụ tư vấn hay phổ biến áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới. Sự phát triển và hoạt động có hiệu quả của thị trường dịch vụ kỹ thuật trong nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng trưởng nông nghiệp, từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và các ngành kinh tế khác ở nông thôn. Ưu điểm cơ bản hiện nay là trong nông thôn đã hình thành đa dạng các tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào chủ yếu cho nông nghiệp gồm các công ty vật tư nông nghiệp tỉnh với các đại lý của nó ở huyện, các tổ chức thương mại của tập thể và tư nhân buôn bán vật tư nông nghiệp… Với mạng lưới những người cung ứng đông đảo như vậy đã đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất của hộ gia đình nông dân về các loại vật tư với giá cả thích hợp và có tính cạnh tranh. Nhược điểm cơ bản là do những non yếu trong công tác quản lý thị trường nên còn tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng; giá cả thị trường có lúc có nơi còn biến động nhiều gây thiệt hại cho người sản xuất nông nghiệp. ở những vùng sâu, vùng xa, vì nhiều lý do mà tiến bộ kỹ thuật mới không đến được tận hộ nông dân.

–    Thị trường tiêu thụ nông sản ổn định là yếu tố quan trọng để phát

triển nông nghiệp ổn định. Trong những năm đổi mới, thành tựu cơ bản là Nhà nước đã tháo gỡ những chướng ngại của sự phát triển thị trường tiêu thụ như: Xoá bỏ tình trạng cát cứ địa phương, phát triển mạnh mạng lưới giao thông quốc gia và giao thông nông thôn… Thị trường tiêu thụ một số nông sản hàng hoá chủ yếu đã hình thành thống nhất trong cả nước, không còn tình trạng chênh lệch quá lớn về giá nông sản giữa các vùng. Việc gia nhập ASEAN và tham gia các Hiệp định thương mại với những khu vực thị trường khác, nông nghiệp Việt Nam đang dần từng bước hội nhập vào kinh tế thế giới thông qua xuất khẩu nông sản.

Nhược điểm cơ bản là đến nay, chúng ta chưa tổ chức tốt hệ thống thị trường nội địa, nên còn tình trạng một số nông sản, thực phẩm, các loại hoa quả.. khi thì thiếu rất gay gắt, nhưng khi được mùa lại có cảm giác ứ đọng, dư do họ sản xuất ra. Việc tổ chức chưa tốt hệ thống thị trường nông sản nội địa ở nước ta được thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây:

+ Mạng lưới giao thông nông thôn ở nhiều vùng chưa hoàn chỉnh, đặc biệt ở các vùng núi, vùng xa. Vùng mận Bắc Hà (Lào cai) không thể phát triển được nếu vẫn duy trì những phương thức vận tải sản phẩm thô sơ là gùi, ngựa thồ v.v…

+ Hệ thống chợ nông thôn còn thiếu, còn khoảng 30% số xã chưa có chợ. Hệ thống các trung tâm thương mại vùng và liên vùng đang trong quá trình hình thành nên chưa đồng bộ.

+ Kiến thức, năng lực và điều kiện tiếp thị của người sản xuất còn yếu, vì còn tình trạng nông dân mù chữ và thiếu phương tiện sinh hoạt hàng ngày trong gia đình như đài, tivi.

+ Tranh mua, tranh bán của thị trường trong trường hợp cụ thể còn rất nặng nề và chưa khắc phục được.

2.   Thực hiện những quyết định điều tiết giá cả nông nghiệp một cách linh hoạt và phù hợp.

Giá cả thường được coi là một trong những vấn đề trọng yếu của các cuộc thảo luận liên quan đến thị trường nông nghiệp. Bởi vì, giá cả là yếu tố cấu thành của cơ chế thị trường có tác động chi phối về cả hai phía cầu và cung của nông nghiệp. Hơn thế nữa, giá cả cũng chi phối các mối quan hệ trao đổi trong nội bộ và trao đổi liên ngành của nông nghiệp (trao đổi của nông nghiệp với các ngành khác). Cuối cùng, giá cả có tác động lớn tới việc phân bổ và huy động sử dụng tài nguyên quốc gia vào nông nghiệp và các ngành kinh tế ở nông thôn.

Đứng về phía những người sản xuất nông nghiệp, giá cả có vai trò chi phối tới các quyết định của họ: Sản xuất loại nông sản nào, bao nhiêu? sản xuất cho thị trường hay chỉ tới mức đủ tiêu dùng cho bản thân và gia định họ ? v.v… Đến mức tột cùng, giá cả tác động tới cả việc người nông dân quyết định ở lại nông thôn hay di cư ra thành phố.

–    Xem xét những khía cạnh khác nhau liên quan đến vai trò  của giá nông nghiệp như trên, ta có nhận xét đáng lưu ý là: Đối với nông nghiệp, các mức giá cả của yếu tố đầu vào sản xuất và đầu ra sản phẩm thường không được coi trọng bằng các giá cả tương đối của chúng. Người nông dân sản xuất hàng hoá thường coi trọng mức chênh lệch về giá cả nông sản so với giá các yếu tố đầu vào, tức là chênh lệch so sánh về giá cả giữa nông nghiệp và công nghiệp. Trong nội bộ nông nghiệp người nông dân quan tâm đến việc trồng cà phê hơn trồng chè vì chênh lệch giữa doanh thu và chi phí của việc trồng cà phê là cao hơn.

–   Xét khía cạnh các mức giá của nông nghiệp, điểm nổi bật là khi giá cả nông sản chỉ được quyết định bởi các áp lực của thị trường thì nó có xu hướng dao động với biên bộ khá lớn so với các sản phẩm công nghiệp. Điều này bắt nguồn từ sự biến đổi phức tạp của thời tiết, khí hậu làm cho sản lượng nông nghiệp khi tăng, khi giảm bất thường. Về lâu dài, loại trừ tối đa các dao động ấy là có lợi cho phát triển nông nghiệp và là một mục tiêu quan trọng của chính sách giá.

Trong nông nghiệp nước ta hiện nay, do còn nhiều biến động phức tạp về thị trường và giá cả, cần có những biện pháp điều tiết giá cả của Nhà nước một cách rất linh hoạt đối với từng hình thái thị trường và phù hợp với từng giai đoạn cụ thể của các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

–   Độc quyền trong thị trường nông nghiệp là khá phổ biến. Nhà nước thực hiện quản lý và điều tiết giá cả trên thị trường độc quyền bằng các hình thức chủ yếu sau đây:

+ Qui định giá chuẩn cung ứng đối với những hàng hoá và dịch vụ độc quyền. Định giá tối đa đối với những người độc quyền cung cấp các yếu tố sản xuất cho nông dân và định giá tối thiểu phải trả cho nông dân đối với những người độc quyền mua nông sản hay nguyên liệu chế biến.

+ Đối với những hàng hoá hay dịch vụ hiện nay Nhà nước năm giữ độc quyền cung cấp cho nông nghiệp nông thôn hoặc Nhà nước vẫn phải đầu tư hoàn toàn như dịch vụ thuỷ lợi, điện cung cấp cho nôn nghiệp nông thôn v.v…, Nhà nước qui định giá chuẩn đối với điện ở công tơ tổng, đối với nước ở công trình kênh cấp II hay cấp III. Những chi phí liên quan tới việc quản lý, duy trì công trình, phân phối điện tới hộ tiêu dùng hay dẫn nước tới ruộng sẽ do người tiêu dùng chi trả.

+ Khuyến khích mở rộng hợp tác liên doanh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong toàn bộ hệ thống thị trường nông nghiệp.

–    Trên thị trường cạnh tranh, tuỳ theo mức độ cạnh tranh lành mạnh của thị trường mà Nhà nước có những biện pháp quản lý giá thích hợp trong từng trường hợp cụ thể:

+ Qui định giá giới hạn (khung giá) cho việc nhập khẩu xăng dầu, phân urê, giá cước vận tải phục vụ nông nghiệp. Qui định giá xuất khẩu tối thiểu đối với các sản phẩm xuất khẩu như gạo, cà phê, chè, hạt điều, thuỷ sản chế biến v.v…

+ Qui định giá tối thiểu mua thóc và giá tối đa bán gạo tại các thị trường trọng điểm khi có biến động giá đối với các công ty lương thực vùng tham gia lưu thông lương thực trên thị trường nội địa, các công ty chế biến và xuất khẩu.

+ Tổ chức đăng ký giá, hiệp thương giá, niêm yết giá đối với các thành

phần kinh tế tham giá thị trường nông nghiệp đối với cả đầu vào và đầu ra.

+ Lập quĩ dự trữ bắt buộc và quĩ quốc gia bình ổn thị trường. Các quỹ này đặt trực tiếp dưới sự kiểm soát và điều hành có hiệu quả của Chính phủ khi cần thiết.

+ Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các yếu tố hình thành giá, kiểm tra lượng tồn kho hay dự trữ bắt buộc; sử dụng linh hoạt dự trữ bắt buộc; Thực hiện chính sách trợ giá khi cần thiết.

3.   Khuyến khích thúc đẩy cạnh tranh và chống độc quyền.

Để từng bước tạo ra những điều kiện khách quan thúc đẩy cạnh tranh trong hệ thống thị trường nông nghiệp thì đồng thời phải có những biện pháp tích cực chống độc quyền. ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển sớm, để hạn chế độc quyền, Quốc hội thường lập và phê chuẩn một đạo luật riêng. Trong điều kiện nước ta chưa có đạo luật chống độc quyền, cần đặc biệt coi trọng những vấn đề chủ yếu sau đây:

Một, có biện pháp phù hợp hạn chế độc quyền ở cả thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra của nông nghiệp, nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt các dịch vụ cho phát triển nông nghiệp. Đáp ứng yêu cầu này, không thể phó mặc toàn bộ cho tư thương. Tuỳ theo tầm quan trọng của mỗi htị trường, Nhà nước cần nắm giữ vai trò chi phối tới mức cần thiết bằng việc tổ chức ra các doanh nghiệp của Nhà nước, điều hành sự hoạt động của các loại doanh nghiệp này theo nhiệm vụ Nhà nước giao. Ngoài ra, những lĩnh vực khác không trọng yếu thì giao cho các thành phần kinh tế khác.

Để tìm được biện pháp phù hợp hạn chế độc quyền trên thị trường nông nghiệp, điều quan trọng trước hết là nhận dạng chính xác trạng thái độc quyền. Nghĩa là độc quyền đó là độc quyền nhất thời hay độc quyền lâu dài. Sau nữa cần xem xét những điều kiện đang duy trì trạng thái độc quyền đó. Về nguyên tắc, để tìm giải pháp hạn chế độc quyền, người ta thường bắt đầu từ việc phân tích các biểu hiện của độc quyền thể hiện ra trên các khía cạnh chủ yếu sau đây

+ Không bị cạnh tranh hoặc ít bị cạnh tranh của các doanh nghiệp khác

+ Chiếm vị trí áp đảo so với đối thủ, biểu hiện ở thị phần mà doanh nghiệp nắm giữ.

+ Có khả năng lợi dụng tăng giá hay giảm giá trong một số trường hợp nhất định.

Hai là, coi trọng các biện pháp thúc đẩy cạnh tranh trong việc cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm của ngành nông nghiệp. Cụ thể là:

+ Thúc đẩy mọi thành phần kinh tế, mọi đơn vị kinh tế tự do kinh doanh làm giầu hợp pháp.

+ Thực hiện các biện pháp xóa bỏ dần sự chênh lệch về trình độ công nghệ, trình độ quản lý giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành sản phẩm hay trên những vùng nông thôn khác nhau. Cần coi trọng các dự án phát triển ở các vùng sâu, vùng xa, vùng núi và những vùng có điều kiện bất thuận khác.

+ Cung cấp đầy đủ những hiểu biết tối thiểu về thị trường và những thông tin về thị trường cho cả người bán và người mua trên thị trường nông nghiệp để họ có thể hiệu chỉnh các quyết định của mình một cách phù hợp, chính xác.

Ba là, phát hiện và kiên quyết ngăn chặn các vấn đề nổi cộm bất thường nảy sinh trên thị trường nông nghiệp.

ở một số vùng và một số lĩnh vực của nông nghiệp nông thôn, đặc biệt ở những nơi, những lĩnh vực mà lực lượng thương nghiệp quốc doanh yếu kém, thường phát sinh những vấn đề nổi cộm bất thường trên thị trường nông nghiệp ở cả đầu vào và đầu ra. Đây là một hình thức cạnh tranh không lành mạnh của tư thương hoạt động trên thị trường nông nghiệp. Hình thức biểu hiện của sự cạnh tranh không lành mạnh là tư thương thiết lập “các lãnh địa riêng” và tự cho mình toàn quyền chi phối lãnh địa đó. Ví dụ, một tư thương giành toàn quyền đặt hàng gia công thêu ren cho một huyện ở tỉnh H; một số tư thương dành toàn quyền mua vải thiều ở một huyện thuộc tỉnh B trong mùa thu hái, không cho những thương nhân mới tới mua được trực tiếp của nông dân v.v…

Thông thường, việc giải quyết các vấn đề nổi cộm nói trên tuỳ thuộc vào tính năng động của bộ máy chính quyền các cấp ở địa phương. Như vậy, các biện pháp giải quyết thường chủ yếu là các biện pháp hành chính.

4.   Thực hiện tốt chiến lược hội nhập vào thị trường nông nghiệp thế giới.

Xu hướng nổi bật trong thời đại ngày nay là sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng nhiều hơn giữa các quốc gia và các khu vực trên thế giới trong quá trình phát triển của từng quốc gia riêng biệt. Đối với nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng của nước ta, việc tăng cường khả năng cạnh tranh của nền nông nghiệp, từng bước hội nhập vào thì trường khu vực và quốc tế là một đòi hỏi khách quan. Trong điều kiện còn chênh lệch nhiều về qui mô và trình độ sản xuất, muốn tăng cường khả năng cạnh tranh, từng bước hội nhập vào thị trường quốc tế hiện đang cạnh tranh gay gắt và được bảo vệ bằng những hàng rào rất tinh vi của các quốc gia, chúng ta cần phải:

–   Củng cố và tăng cường vị trí vốn có ở các thị trường quen thuộcvà các bạn truyền thống.

–   Tích cực mở rộng và tạo thế đứng trên các thị trường mới.

–   Tham gia nhiều hơn vào các hiệp định và công ước quốc tế có liên quan đến kinh tế và thương mại.

–   Sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các công cụ kinh tế trong quan hệ ngoại thương đối với các sản phẩm xuất nhập khẩu (nhập khẩu vật tư nông nghiệp và xuất khẩu nông sản). Cần đặc biệt coi trọng những vấn đề sau đây:

+ Hoàn thiện việc xét và cấp quota xuất nhập khẩu, ngăn chặn những tiêu cực có thể xảy ra trong việc xét và cấp quota. Sử dụng một cách khéo léo các công cụ phi thuế phù hợp với thông lệ quốc tế.

+ Rà soát và hoàn thiện hệ thống thuế xuất nhập khẩu. Cần có chính sách bảo hộ thoả đáng và phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết hội nhập của Đảng và Nhà nước ta với các đối tác trên thế giới. Để tăng cường khả năng cạnh tranh của các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu các sản phẩm có liên quan đến nông nghiệp. Trong điều kiện cho phép, mạnh dạn mở rộng quyền hoạt động xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp không phải của nhà nước có đủ khả năng và điều kiện.

+ Điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp và linh hoạt để thúc đẩy các quan hệ buôn bán trên thị trường quốc tế.

– Thực hiện việc kiểm soát buôn bán tiểu ngạch và chống buôn lậu có hiệu qủa.