Những cam kết quốc tế của Việt Nam về thuế nhập khẩu

1. Cam kết của Việt Nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT).

1.1. Nội dung cam kết.

Hiệp định về chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung cho khu vực thương mại tự do ASEAN do các Bộ trưởng ký tại Hội nghị Thượng Đỉnh ASEAN lần thứ IV tháng 1/1992 Xingapore để chi tiết hoá ý đồ thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN. Việt Nam chính thức tham gia thực hiện AFTA bằng việc ký nghị định thư gia nhập CEPT/AFTA. Ngày 15/12/1995. Theo quy định của hiệp đinh CEPT và nghị đinh thư gia nhập, Việt Nam sẽ bắt đầu thực hiện vào 1/1/1996 và hoàn thành 1/1/2006. Thực chất của chương trình này là các nước thành viên ASEAN đạt được sự thoả thuận giảm thuế quan chung xuống còn ở mức 0-5% trong thương mại nội bộ các nước ASEAN trong vòng 10 năm. Các sản phẩm thực hiện giảm thuế nhập khẩu do các thành viên tự đề nghị căn cứ vào hoàn cảnh kinh tế mỗi nước.

Trước khi bắt đầu thực hiện CEPT, Việt Nam phải công bố các danh mục thực hiện CEPT, bao gồm:

– Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL):

– Danh mục loại trừ tạm thời (TEL):

– Danh mục cắt giảm thuế ngày (IL).

– Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm và nhạy cảm cao (SL)

Lịch trình cắt giảm thuế của Việt Nam được quy định cụ thể như sau:

– Đến cuối giai đoạn (1/1/2006), thuế suất đối với toàn bộ các mặt hàng trong danh mục IL và TL phải được cắt giảm xuống 0-5%.

– Đối với danh mục IL: Đến 1/1/2001, các mặt hàng có thuế suất 20% phải được giảm xuống bằng 20% theo công thức mỗi năm cắt giảm một lượng bằng 20% mức chênh lệch giữa thuế suất gốc và mức 20%. Trong các năm tiếp theo, tiếp tục cắt giảm cho đến khi đạt 0-5% vào 1/1/2006.

Các mặt hàng có thuế suất dưới 20% sẽ phải đạt thuế suất bằng 0-5% vào 1/1/2003.

– Đối với danh mục TEL: Trong vòng 5 năm từ 1/1/1999 đến 1/1/2003, các mặt hàng thuộc TEL phải được đưa dần vào danh mục IL, mỗi năm chuyển 20% số mặt hàng. Sau khi được đưa vào danh mục IL, việc cắt giảm thuế phải được thực hiện ít nhất 2-3 năm 1 lần và mỗi lần giảm không ít hơn 5%. Từ 1/1/2001, các mặt hàng có thuế suất trên 20% sẽ phải giảm ngay xuống 20% khi đưa vào cắt giảm. Mỗi năm phải ban hành pháp lý thể hiện việc chuyển các mặt hàng và cắt giảm thuế đó.

– Các mặt hàng thuộc danh mục SL: Bắt đầu giảm thuế từ 1/1/2004 và kết thúc vào 1/1/2013 với thuế suất cuối cùng bằng 0-5%.

1.2. Điều kiện để được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo hiệp định CEPT.

Các điều kiện để sản phẩm được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo CEPT là:

– Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm của cả nước xuất khẩu và nhập khẩu và phải có mức thuế nhập khẩu bằng hoặc thấp hơn 20%.

– Phải có chương trình giảm thuế được hội đồng AFTA thông qua.

– Phải là sản phẩm của ASEAN, tức là phải thoả mãn yêu cầu hàm lương xuất xứ từ các thành viên ASEAN ít nhất là 40%.

Hàng hoá được hưởng thuế nhập khẩu uu đãi phải có chứng nhận xuất xứ (C/O) do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp.

Hàng nhập khẩu phải được vận chuyển thẳng từ các nước thành viên ASEAN đến Việt Nam được quy định tại quyết định số 1420/2004/QĐ-BTM ngày 04/10/2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại.

Với hàng hoá từ khu thuế quan (kể cả hàng gia công) khi xuất khẩu vào thị trường trong nước phải nằm trong danh mục hàng hoá và mức thuế khác xuất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CEPT/AFTA và thoả mãn yêu cầu xuất xứ ASEAN mới được áp dụng mức thuế suất CEPT.

  1. Thuế suất thuế nhập khẩu áp dụng.

Mức thuế suất thuế nhập khẩu áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu thuộc diện áp dụng thuế suất CEPT là thuế suất CEPT cho từng năm, tương ứng cho cột thuế suất CEPT của năm đó, được quyết định tại danh mục hàng hoá và mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CEPT/ATTA.

Tập hợp mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của mặt hàng quy định tại biểu thuế nhập khẩu uư đãi được điều chỉnh nhỏ hơn so với mức thuế suất CEPT thì mức thuế suất thuế nhập khẩu áp dụng cho mặt hàng này sẽ là thuế suất MFN nếu ngược lại thì mức thuế suất nhập khẩu áp dụng sẽ là thuế suất CEPT.

Hệ thống văn bản ban hành Danh mục hàng hoá và thuế suất của Việt Nam để thực hiện CEPT.

– Nghị định 91/CP ngày 18/12/1995.

– Nghị định 82/CP ngày 13/12/1996.

– Nghị định số 15/1998/NĐ-CP ngày 12/3/1998.

– Nghị định số 14/1999/NĐ-CP ngày 23/3/1998.

– Nghị định số 9/2000/NĐ-CP ngày 21/3/2000.

– Nghị định số 78/2003/NĐ-CP ngày 1/7/2003.

– Nghị định số 151/2004/NĐ-CP ngày 5/8/2004.

– Nghị định số 13/2005/NĐ-CP ngày 3/2/2005.

2. Cam kết của Việt Nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại-Việt Nam Hoa Kỳ.

Cùng với việc gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và cam kết thực hiện lộ trình giảm thuế theo CEPT, Việt Nam cũng triển khai tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng bằng việc ký kết Hiệp định Việt Nam- Hoa Kỳ (13/7/2000) và bắt đầu có hiệu lực (10/12/2001) Hiệp định này được ký kết dựa trên những nguyên tắc cơ bản của tổ chức thương mại thế giới WTO nên có thể coi là khuôn mẫu pháp lý cần thiết, hữu ích cho Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO trong suốt thời gian qua. Với ý nghĩa là một cam kết thương mại song phương, các chuẩn mức pháp lý của Hiệp định liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau trong lĩnh vực thương mại: Thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Trong số các vấn đề pháp lý được quy định tại Hiệp định này thì thuế quan chỉ được đề cập như một vấn đề nhỏ trong lĩnh vực thương mại hàng hoá. Một cách khái quát, những cam kết của Việt Nam về thuế nhập khẩu trong hiệp định bao gồm những nội dung cơ bản sau:

+ Vấn đề đối xử tối huệ quốc (MFN).

Việt Nam cam kết dành cho Hoa Kỳ chế độ đối xử tối hậu quốc trong thương mại hàng hoá theo nguyên tắc có đi có lại. Nghĩa là các bên dành cho hàng hoá của nhau đối xử như sự đối xử họ dành cho hàng hoá tương tự do các nước khác sản xuất, trong đó có vấn đề đối xử về thuế suất khẩu nhập khẩu.

Ví dụ: Nếu một nước 3 đàm phán với Việt Nam về một dòng thuế nhập khẩu với mức thuế suất nhỏ hơn mức quy định trong Hiệp định thì nguyên tắc đối xử tối huệ quốc đòi hỏi Việt Nam cũng phải dành cho các công ty Hoa Kỳ sự đối xử tương tụ như vậy về thuế suất đối với các hàng hoá tương tự được nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Nguyên tắc này được quy định tại điều 1, chương 1 của Hiệp định.

+ Về đối xử quốc gia.

Việt Nam và Hoa Kỳ cam kết dành cho hàng hoá nhập khẩu của nhau sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn hàng hoá tương tự có nguồn gốc trong nước. Trên thực tế, nguyên tắc này ít liên quan đến thuế nhập khẩu mà chủ yếu liên quan đến các loại thuế nội địa hay các loại lệ phí và phí nội địa đánh vào sản phẩm tương tự có nguồn gốc trong nước và nguồn gốc nhập khẩu. Tuy nhiên điều 2 của Hiệp định, nguyên tắc này được quy định với nội dung đòi hỏi mỗi bên phải điều hành các biện pháp thuế quan và phi thuế quan có ảnh hưởng tới thương mại để tạo cho hàng hoá ở bên kia những cơ hội để cạnh tranh trong nước, nhằm  tránh sự phân biệt đối xử với mục đích thực hiện  ý đồ bảo hộ  sản xuất trong nước.

+ Về vấn đề định giá tính thuế hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu.

Việt Nam và Hoa Kỳ cam kết trong vòng 2 năm  kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu giữa 2 nước sẽ được thực hiện theo các tiêu chuẩn được thiết lập bởi Hiệp định về định giá hải quan của WTO. Vấn đề này được quy định tại điều 3.4 và điều 4.5 chương I Hiệp định.

+Vấn đề cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu.

Việt Nam cam kết sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ Hoa Kỳ sau 3 năm và một số hàng hoá khác là 6 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực.

3. Cam kết của Việt Nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ WTO.

3.1 Nội dung cam kết.

Lộ trình giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam để gia nhập WTO có thể tóm tắt như sau

– Cắt giảm theo từng dòng thuế là chủ yếu

– Cắt giảm có chọn lọc theo nhóm hàng

– Cắt giảm theo các Hiệp định tự do hoá theo ngành

Theo cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm 22% thuế nhập khẩu so với mức hiện hành, thực hiện chủ yếu trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, mức giảm thuế lớn tập trung ở 3 năm đầu tiên sau đó giảm đều hơn. Ngay trong năm đầu tiên sẽ cắt giảm cho 1500 dòng thuế chiếm 20% biểu thuế. Với biểu thuế tối huệ quốc hiện hành (MFN) có mức thuế bình quân là 17,5 % trong đó các mặt hàng có mức thuế suất từ 0 đến 5% đã chiếm tỉ trọng xấp xỉ một nửa biểu thuế, nhưng Việt Nam đã cam kết giảm 30% so với mức thuế hiện hành. Như vậy, Việt Nam đã ràng buộc 100% biểu thuế và 90% kim ngạch nhập khẩu hàng năm là phạm vi mở cửa để gia nhập WTO.

Trong số 10600 dòng thuế nhập khẩu sẽ có hơn 36% phải cắt giảm, trong đó tập trung vào thuế đối với ngành công nghiệp (23,9%), nông nghiệp (10.6%) .

Mức cắt giảm thuế nhập khẩu có biên độ khá rộng theo từng ngành khác nhau, từ 2% đến 63,2%.

3.2. Tác động của cam kết.
3.2.1 Đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Lộ trình giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam theo cam kết gia nhập WTO là rất tích cực. Mức thuế cam kết mở cửa Việt Nam như vậy là cao hơn so với nhiều nước đang phát triển là thành viên của WTO, thậm chí đối với nhiều nhóm ngành hàng đặc biệt là hàng nông sản thì mức mở cửa của Việt Nam còn cao hơn cam kết của một số nước phát triển. Lộ trình này sẽ có những tác động tích cực, thúc đẩy phát huy các lợi thế so sánh của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới và khu vực. Mặt khác, giảm bảo hộ sản xuất theo lộ trình giảm thuế sẽ đưa các doanh nghiệp Việt Nam cọ xát hơn với thị trường thế giới tạo sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới, cải tiến quản lý, hiện đại hoá công nghiệp để nâng cao khả năng cạnh tranh, tận dụng các cơ hội mở cửa thị trường. Như vậy, việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO sẽ đem lại cho doanh nghiệp Việt Nam những thuận lợi đáng kể.

Thuế nhập khẩu giảm sẽ góp phần làm giảm đáng kể chi phí cho nguồn nguyên liệu đầu vào của một số ngành sản xuất góp phần làm hạ giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm hàng hoá trong nước. Trong đó, các doanh nghiệp công nghiệp chủ yếu có nguyên liệu sản xuất chính là nhập từ nước ngoài. Với việc giảm thuế nhập khẩu sẽ là những tín hiệu đáng mừng cho các doanh nghiệp trong những ngành này. Bên cạnh đó, việc giảm thuế nhập khẩu sẽ thu hẹp bảo hộ quá mức với các ngành đang có mức thuế MFN cao. Mà khi hội nhập thì biện pháp bảo hộ duy nhất là thuế nhập khẩu, việc cắt giảm như trên rõ ràng là một mất mát lớn với nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước.

3.2.2. Đối với nhà nước.

Việc giảm thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của ngân sách tuy nhiên nếu có sự quản lý tốt thì số thu từ hoạt động nhập khẩu vẫn có thể tăng trưởng cao. Do đó, cần phải rà soát lại tất cả các mặt hàng nhập khẩu.

Tuy chúng ta phải cắt giảm thuế nhiều mặt hàng, nhưng cũng có rất nhiều mặt hàng có thể điều chỉnh thuế suất, hoặc chỉ cắt giảm theo lộ trình, một số mặt hàng trước đây thuộc diện cấm nhập khẩu, nay không cấm mà lại thu thuế rất cao như thuốc lá điếu…

Trở thành thành viên của WTO, Việt Nam có nhiều thuận lợi, khó khăn. WTO là một cỗ xe lớn của toàn cầu, nó quy định mang tính ràng buộc, không cho phép bất kỳ thành viên nào tuỳ tiện thắng cỗ xe đó vì lợi ích của riêng mình. Vì vậy, phải khắc phục những khó khăn và tăng thêm thuận lợi hoặc đơn giản chính là dung hoà giữa hai mặt đối lập ấy. Do đó, nhà nước cũng như doanh nghiệp cần có các giải pháp để chủ động thực hiện các cam kết, hạn chế những bất lợi khi tham gia hội nhập.