Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với các nền kinh tế đang phát triển trong qúa trình thực hiện các hiệp định của WTO.

1 Hiệp định về tự do hàng nông sản.

1.1 Nội dung:

Hàng nông sản là mặt hàng tương đối nhạy cảm, cho nên từ trước đến nay vẫn được hưởng nhiều ngoại lệ. Mặc dù nông sản chỉ chiếm không quá 10% thương mại thế giới và không quá 5% GDP của nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển, nhưng thương mại hàng nông sản vẫn  luôn là đối tượng rất quan trọng trong đàm phán thương mại quốc tế.

Thương mại hàng nông sản là lĩnh vực được bảo hộ cao nhất trong chính sách thương mại của các nước thành viên WTO. Trong thời kỳ GATT, thương mại hàng nông sản đã được quy định, điều chỉnh, nhưng vẫn còn nhiều lỗ hổng, chẳng hạn như  cho phép các nước áp dụng một số biện pháp phi thuế, hạn ngạch nhập khẩu… cho loại hàng hóa này. Mậu dịch nông sản do đó trở nên méo mó cao độ. Nguyên nhân của vấn đề này chính là do hàng nông sản là mặt hàng chịu thuế cao nhất, là đối tượng của chính sách bảo đảm an ninh lương thực và nông nghiệp của thế giới, được các nước phát triển áp dụng trợ cấp với mức độ cao. Nông nghiệp là lĩnh vực gây nhiều tranh chấp và thách thức đối với các nước thành viên WTO, đặc biệt là các nước đang phát triển phải gánh chịu ảnh hưởng và sức ép lớn nhất.

Nhằm tạo ra khuôn khổ cho thương mại hàng nông sản thế giới và thúc đẩy trao đổi mặt hàng này, tại vòng đàm phán Uruguay các nước đã cùng nhau ký kết hiệp một hiệp định mới : “Hiệp định nông nghiệp”. Thỏa thuận đạt được tại vòng đàm phán Uruguay là một bước tiến quan trọng dẫn đến sự cạnh tranh công bằng, có trật tự hơn và mậu dịch ít bị bóp méo hơn. Hiệp định nông nghiệp đã đạt được những thoả thuận về mở cửa thị trường nông sản, thuế khoá và các biện pháp phi thuế quan; giảm trợ cấp cũng như mức hỗ trợ trong nước của các nước thành viên. Hiệp định vẫn cho phép chính phủ các nước thành viên hỗ trợ cho nền kinh tế  nông thôn của mình phát triển, với hy vọng, sự hỗ trợ này sẽ được thực hiện thông qua các chính sách làm cho thương mại nông sản được thông thương và ít bị lệch lạc hơn. Hiệp định này cũng cho phép có linh hoạt về cách thức với mực độ mà các cam kết thực hiện và chấp nhận được. Các nước đang phát triển không phải cắt giảm các khoản trợ cấp hay hạ thấp biểu thuế của họ với mức như các nước phát triển đang áp dụng và họ được dành thêm thời gian để hoàn thành nghĩa vụ của mình.

      * Tiếp cận thị trường:

   Tất cả thuế quan đối với hàng nông sản đều bị ràng buộc. Hầu hết các hạn chế khác không phải dưới dạng thuế đều được chuyển sang thuế  – đây là quá trình mà nội dung thực chất là “thuế hoá”. Mức độ thuế hoá dựa trên việc tính toán tác động bảo hộ của biện pháp phi thuế quan đó, nhằm đưa ra mức thuế quan có tác động bảo hộ tương đương.

Các nước phát triển cam kết sẽ giảm thuế trung bình 36%, mức độ giảm tối thiểu đối với mỗi dòng thuế không ít hơn 15% và được thực hiện trong thời gian 6 năm ,từ 1995-2000.

Các nước đang phát triển cam kết sẽ giảm thuế trung bình 24% và mức giảm tối thiểu với mỗi dòng thuế không ít hơn 10% và thực hiện trong vòng 10 năm, từ 1995-2004.

Các nước chậm phát triển không phải cắt giảm biểu thuế của mình.

Đối với các sản phẩm mà hạn chế phi thuế đã được chuyển hoá thành thuế, chính phủ  các nước thành viên được phép thực hiện các hành động khẩn cấp đặc biệt hay còn gọi là biện pháp tự vệ, nhằm ngăn chặn không để tình hình giá trượt xuống nhanh hay giá hàng nhập khẩu tăng vọt ảnh hưởng xấu đến nông dân nước họ. Có 4 nước có vấn đề an ninh lương thực đặc biệt nhạy cảm (chủ yếu là với mặt hàng gạo) sử dụng điều khoản đối xử đặc biệt để hạn chế hàng nhập khẩu nhưng họ lại phải có nghĩa vụ đẩy nhanh mức độ mở cửa thị trường cho hàng nhập khẩu. Ví dụ với Nhật Bản: mở cửa thị trường bắt đầu là 4% và lên đến 8% vào năm 2000.

Các nước cũng cam kết giữ mức mở cửa thị trường tối thiểu không thấp hơn mức trung bình của thời kỳ 1986-1990 và không đưa ra thêm hàng rào phi thuế quan.

* Các biện pháp hỗ trợ trong nước:

Các chính sách trong nước có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và thương mại phải được cắt giảm. Các nước thành viên WTO đã tính toán được mức hỗ trợ toàn bộ hay “tổng AMS” cho khu vực nông nghiệp trong mỗi năm tại các cơ sở, từ năm 1986-1988. Tổng AMS là giá trị của toàn bộ các khoản trợ cấp nội địa và khoản trợ cấp cho từng mặt hàng nông sản. Trong các cam kết, yêu cầu cắt giảm 20% của AMS toàn phần đối với các nước phát triển trong thời gian 6 năm; đối với các nước đang phát triển, cam kết cắt giảm là 13% trong vòng 10 năm, kể từ năm 1995; không có yêu cầu cắt giảm đối với những nước chậm phát triển.

* Giảm trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản.

Hiệp định Nông nghiệp cấm trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp, trừ phi các trợ cấp này được quy định rõ ràng trong danh mục các cam kết của một nước. Đối với các trợ cấp đã liệt kê này, hiệp định đòi hỏi các thành viên của WTO cắt giảm  số tiền sử dụng cho trợ cấp xuất khẩu lẫn số lượng xuất khẩu nhận trợ cấp.

Lấy mức bình quân trong các năm 1986-1990 làm cơ sở, các nước phát triển thoả thuận cắt giảm 36% nguồn ngân sách để trợ cấp xuất khẩu và 21% khối lượng xuất khẩu được hưởng trợ cấp trong vòng 6 năm tính từ năm 1995. Còn các nước đang phát triển sẽ cắt giảm 24% nguồn ngân sách  cho trợ cấp xuất khẩu; khối lượng hàng được hưởng trợ cấp sẽ giảm 14% trong vòng 10 năm tính từ năm 1995. Các nước chậm phát triển không phải đưa ra các cam kết cắt giảm.

* Các quy định đối với các sản phẩm động thực vật.

Có một hiệp định riêng về vấn đề an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn y tế về động thực vật gọi tắt là: “Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch”, đặt ra các quy định cơ bản cho vấn đề an toàn thực phẩm. Hiệp định cho phép các nước đặt tiêu chuẩn cho riêng mình, nhưng đồng thời cũng quy định rằng các quy chế phải căn cứ trên cơ sở khoa học. Các nước thành viên WTO  được khuyến khích sử dụng các tiêu chuẩn, hướng dẫn và gợi ý mang tính quốc tế.

Hiệp định cho phép các nước được sử dụng những biện pháp khác nhau để giám định hàng hoá; đồng thời hiệp định cũng có những điều khoản quy định về kiểm tra, giám định và các thủ tục phê duyệt.

1.2 Những cơ hội.

Hiệp định về Nông nghiệp (AoA) đã bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/1/1995. Hầu hết các nhà đàm phán của các nước đang phát triển nói chung đều muốn tham gia vào AoA. Hiệp định về Nông nghiệp đã mang lại những cơ hội chắc chắn cho các nước đang phát triển.

Trước hết, khả năng tiếp cận thị trường của các nước đang phát triển sẽ trở nên  dễ dàng hơn. Theo quy định của AoA, các nước dần dần phải loại bỏ các loại hạn chế thương mại khác nhau mà nhà xuất khẩu phải đối phó như hạn ngạch, thuế quan và các hàng rào phi thuế quan… Các nước đang phát triển có thể xuất khẩu các mặt hàng nông sản không hạn chế định lượng sang mọi thị trường các nước thành viên WTO, thị trường xuất khẩu được bảo đảm chắc chắn. Tất cả các thuế quan đối với hàng nông sản đều bị ràng buộc sẽ làm tăng độ ổn định thị trường cho các nhà kinh doanh xuất và nhập khẩu. Hầu như tất cả các hạn chế không phải dưới dạng thuế đều được chuyển sang thuế dưới hình thức thuế hoá, điều này khiến cho các nhà xuất khẩu nông sản các nước đang phát triển có thể xác định chính xác mức độ bảo hộ của các thành viên khác.

Tiếp theo, các nước đang phát triển có thời gian dài hơn (10 năm thay vì 4 năm đối với các nước phát triển) để cắt giảm thuế quan và trợ cấp xuất khẩu; trong những năm thực hiện, các nước này đều được phép sử dụng trợ cấp theo những điều kiện nhất định để giảm bớt chi phí Marketting và vận chuyển hàng xuất khẩu. Ngoài ra, WTO còn cho phép chính phủ các nước đang phát triển hỗ trợ cho nền nông nghiệp nước mình được hưởng ưu đãi hơn so với các nước phát triển; các nước đang phát triển không phải cắt giảm các khoản trợ cấp hay hạ thấp biểu thuế của mình với mức như của các nước phát triển. Mặt hàng nông sản của các nước đang phát triển nhờ đó có cơ hội cạnh tranh nhiều hơn đối với hàng nông sản của các nước phát triển do có giá thành thấp hơn nhiều.

Tự do hoá mậu dịch hàng nông sản dẫn đến hàng nông sản của các nước đang phát triển không bị đối xử phân biệt theo các nguyên tắc của WTO (nguyên tắc đãi ngộ quốc gia và tối huệ quốc), khối lượng hàng xuất khẩu không bị hạn chế, các mặt hàng nông sản không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng, thu nhập của nông dân được tăng lên, giảm đói nghèo. Trình độ, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp tiến bộ rất đáng kể. Các nước đang phát triển có khả năng và điều kiện công nghiệp hóa nền nông nghiệp của mình, cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành và đa dạng hóa hàng nông sản, qua đó nâng cao được khả năng canh tranh của hàng hóa nông nghiệp trên thị trường quốc tế.

1.3 Những thách thức.

Bên cạnh những cơ hội đạt được trong Hiệp định Nông nghiệp AoA, các nước đang phát triển đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn trong lĩnh vực này. Trên thực tế, AoA có lợi nhiều hơn cho các cường quốc kinh tế, nhất là Mỹ và EU. Có nhiều nước đang phát triển đã cảm thấy rằng họ bị buộc phải ký vào Hiệp định này. Vấn đề cạnh tranh thị trường tiêu thụ cộng với việc phải trợ cấp cho nông dân quá cao đã khiến cho Mỹ và EU thống nhất một ý tưởng chung là cùng nỗ lực đưa vấn đề nông nghiệp vào đàm phán tại Uruguay nhằm củng cố  thế cạnh tranh độc quyền và mỗi bên tìm kiếm lợi thế của mình trong đó. (Vào cuối những năm 80, EU phải chi gần 80% ngân sách cho việc trợ cấp các chương trình nông nghiệp, còn Mỹ thì bắt tay vào một chương trình tổng thế rất tốn kém để dành lại thị trường từ tay EU, như thị trường bột mì tại Tây Phi):

Thứ nhất, về quá trình thực hiện các cam kết trong Hiệp định nông nghiệp: Do chính phủ các nước đang phát triển phải tiến hành chương trình cắt giảm thuế quan, dần xoá bỏ hạn ngạch và hàng rào phi thuế quan khác, ngành nông nghiệp sẽ không được bảo hộ nhiều như trước. Khó khăn sẽ đến với các nhà sản xuất các mặt hàng chưa có lợi thế cạnh tranh vốn vẫn được nhà nước bảo hộ, đặc biệt đối với những người nông dân sản xuất những mặt hàng mà các nước đang phát triển xuất khẩu nhiều nhất như: gạo, cà phê, hạt điều, cọ dừa…vì thời gian và điều kiện chưa đủ để họ hiện đại hóa nền nông nghiệp. Thời gian cho quá trình cắt giảm các chính sách là 10 năm, so với các nước phát triển là 6 năm, tuy vậy ,đối với các nước đang phát triển thời gian đó là quá ngắn so với quảng đường họ phải đi, vẫn chưa đủ cho nền nông nghiệp các nước này thích ứng được với quá trình chuyển đổi. Những ngành sản xuất nông sản chắc chắn gặp phải những khó khăn rất lớn, thậm chí có nhiều doanh nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh các nông sản này cũng có thể bị phá sản, nhiều vùng nông thôn đang nghèo đói sẽ trở nên đói nghèo hơn, nếu những ngành đó không có sự chuẩn bị điều kiện thích ứng và thích ứng nhanh,không có kế hoạch điều chỉnh cơ cấu sản xuất và đầu tư thích hợp, xác định rõ mức độ cạnh tranh với nông sản nhập khẩu và cấu trúc thị trường trong từng thời kỳ.

Tự do hoá thương mại hàng nông sản, có nghĩa là nền nông nghiệp các nước đang phát triển phải đối mặt với tình trạng hàng nhập khẩu tràn lan trên thị trường nội địa với chất lượng cao và giá thấp, điều này sẽ khiến cho các nhà sản xuất trong nước mất đi thị phần, ngay cả đối với những nông sản truyền thống. Một ví dụ về tình trạng nhập khẩu ngô tại Mêhicô. Ngô là một trong những lương thực chủ yếu của Mêhicô. Việc đột nhiên mở cửa thị trường cho nhập khẩu mặt hàng nông nghiệp vào, đã gây ra một cú sốc lớn cho các nhà sản xuất nông nghiệp Mêhicô đặc biệt là ngô. Mỹ là nước xuất khẩu ngô nhiều nhất vào Mêhicô. Sau khi mở cửa, Mỹ xuất khẩu ngô ồ ạt vào Mêhicô, năm 1996 Mêhicô phải chi ra 1,1 tỷ USD cho việc nhập khẩu mặt hàng này, hậu quả là ngô thừa mứa trên thị trường, đẩy giá nội địa tụt xuống 18-23% so với năm 1995. Như vậy, nhập khẩu ngô của Mêhicô đã làm giá ngô nội địa giảm kỷ lục, trong khi giá thế giới đang ở mức cao kỷ lục. Nhà nước phải chi một lượng tiền lớn trong khi nhưng người nông dân và các doanh nghiệp sản xuất hàng nông sản bị khốn đốn.

Giá cả các mặt hàng nông sản, đặc biệt là nông sản thô trên thị trường thế giới biến động rất mạnh, người nông dân khó có thể tự bảo vệ mình trước sự biến động của giá cả. Vì vậy, nhiều nông dân rất lo lắng ngay cả khi họ được mùa.

Thứ hai, về mặt trợ cấp. Các nước phát triển trợ cấp cho nông dân của họ như phụ cấp thu nhập trực tiếp cho những người này để bù đắp cho sự bấp bênh của thị trường. Tuy Hiệp định AoA đã có hiệu lực hơn 5 năm, nhưng nó lại chẳng có mấy hiệu lực đối với sự hạn chế bảo hộ và trợ cấp cho nông dân tại các nước phát triển. Việc đặt trợ cấp thu nhập trực tiếp ra ngoài khuôn khổ quy định của GATT là một trong những đòn giáng nặng nề vào các nước đang phát triển, khi họ đang hy vọng Hiệp định Nông nghiệp sẽ được sử dụng như một cơ chế  làm cho thương mại quốc tế được thông thoáng hơn. Các phụ cấp trực tiếp đó được chi trả cho nông dân với lý do là “không dính dáng đến sản xuất” và do đó không làm biến dạng thị trường. Mức độ trợ cấp của các nước phát triển rất cao. Các nước OECD, kể từ khi hiệp định AoA có hiệu lực thực hiện trợ cấp trực tiếp cho người nông dân, từ trợ cấp 182 tỷ USD năm 1995 đã lên đến hơn 300 tỷ USD vào năm 1998. Phần lớn số tiền này thuộc  về Mỹ và EU, trong khi đó, do các nước đang phát triển không đủ tiền để trợ cấp, nông dân của các nước thành viên này chỉ nhận được rất ít trợ cấp của chính phủ, nếu có thì cũng chưa đạt đến tỷ lệ phần trăm của giá trị sản xuất mà AoA cho phép và không  thể so sánh với những khoản tiền mà người nông dân của nước phát triển được trợ cấp. Thực tế các nước đang phát triển đã bị thua thiệt do các chính sách của AoA đã ảnh hưởng tiêu cực cho nền nông nghiệp của họ. Nông dân các nước  này đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề của việc phải điều chỉnh cho thích hợp với hệ thống nông nghiệp mới (giảm thuế quan, thay đổi hạn ngạch…), vì với một mức trợ cấp ít ỏi của chính phủ cộng với việc họ phải mở cửa thị trường rộng hơn cho các nước phát triển xuất khẩu hàng hoá  dư thừa của họ vào làm căng thêm sợi dây thọng lọng thắt vào cổ chính họ. Việc trợ cấp cho các nhà sản xuất nông sản ở các nước phát triển đã biến tự do hoá toàn cầu thành việc giành giật thị trường của các nước đang phát triển và bóp chết những người nông dân không được trợ cấp ở các nước này.

Thứ ba, mức độ lệ thuộc vào lương thực của các nước đang phát triển có chiều hướng gia tăng. Hiện nay, sản xuất lương thực theo hướng xuất khẩu là sức ép buộc người nông dân làm ăn theo lối tự cung tự cấp lâu nay phải bỏ mảnh đất của mình hoặc chuyển hướng sang sản xuất hàng nông sản để xuất khẩu. Do vậy lương thực cung cấp cho nội địa ngày một ít đi. Chính vì vậy, mặc dù thế giới đã sản xuất được một lượng lương thực dồi dào, nhưng mức độ lệ thuộc lương thực và tình trạng nhập khẩu lương thực tại các nước đang phát triển ngày càng tăng. Một số lượng khá lớn lao động nông nghiệp do năng suất lao động thấp và mức độ cạnh tranh của hàng nhập khẩu rất cao so với hàng nội địa cùng loại đã phải rời bỏ khỏi mảnh đất của mình, hy vọng tìm được việc làm có thu nhập khá hơn, dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng.

Thứ tư, trong quá trình phân phối sản phẩm, các nước đang phát triển gặp phải những rào cản lớn  mà họ không thể vượt qua được khi muốn xâm nhập thị trường của các nước phát triển.

Phân phối phụ thuộc rất nhiều với yếu tố thị trường và cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Tại các nước đang phát triển hầu như đều tồn tại tình trạng cơ sở  hạ tầng vật chất yếu kém, cũ kĩ, thiếu sự tân trang bảo dưỡng. Do vậy vấn đề vận chuyển bị ảnh hưởng rất nhiều, thời gian vận chuyển dài, chi phí vận chuyển khá cao, điều này khiến cho việc nhập khẩu lương thực từ nước ngoài vào có khi còn rẻ hơn việc vận chuyển và mua bán giữa các vùng trong nước.

Thứ năm, các nước phát triển đặc biệt là Mỹ luôn kêu gọi các nước đang phát triển mở cửa tự do hàng nông sản, nhưng lại bảo hộ thị trường của mình gây nên sự bất bình đẳng và ảnh hưởng tiêu cực đến khu vực nông nghiệp của các nước đang phát triển.

Thứ sáu, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là một thách thức không

nhỏ đối với các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển gặp khó khăn lớn trong việc thực hiện các tiêu chuẩn về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật do thiếu cơ sở kĩ thuật và chuyên môn pháp lý,không đủ khả năng đầu tư trong một thời gian quá ngắn. Nhiều nước phát triển đã dựa vào điểm yếu của các nước đang phát triển là hàng nông sản của họ không đủ điều kiện về an toàn lương thực để hạn chế  nhập hàng nông sản từ các nước này.

Thách thức cuối cùng của hiệp định AoA đối với các nước đang phát triển là: theo cam kết của AoA, các nước đang phát triển không được chi để hỗ trợ các nhà sản xuất trong nước quá 10% tổng giá trị của ngành nông nghiệp, còn các nước phát triển là 5%. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nước phát triển đã chi quá 50% để hỗ trợ cho các nhà sản xuất của mình, các khoản chi này lại được coi là hợp pháp theo cam kết của họ trong AoA. Còn các nước đang phát triển lại không đủ khả năng tài trợ ngay chỉ mức cho phép của AoA.

Hiệp định Nông nghiệp đã mang lại cho các nước đang phát triển những cơ hội rất rõ rệt, nhưng các thách thức đặt ra với các nước này cũng rất lớn. Chính vì vậy, chính phủ các nước đang phát triển cần phải có những chính sách thích ứng nhằm phát triển, củng cố và hiện đại hóa nền nông nghiệp nội địa, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

2 Hiệp định về hàng dệt may.

2.1 Nội dung.

Cũng giống như hàng nông sản, hàng dệt may cũng là một vấn đề khó khăn nhất trong WTO, cũng như trong hệ thống GATT trước đây. Trước vòng đàm phán Uruguay, thương mại hàng dệt may được điều chỉnh bởi hiệp định đa sợi (MFA). Đây là khuôn khổ cho các thoả thuận song phương, cũng như các hoạt động mang tính đơn phương, thiết lập quota ,hạn chế số lượng hàng nhập khẩu. Hệ thống này rất bất lợi cho các nước đang phát triển vốn rất có tiềm năng trong lĩnh vực này.

Kể từ năm 1995, Hiệp định thương mại hàng dệt và may mặc (ATC) đã được ký kết và có hiệu lực, thay thế cho hiệp định đa sợi (MFA). Hiện tại hàng dệt may đang trải qua một quá trình thay đổi cơ bản kéo dài 10 năm, được các nước chấp nhận tại vòng đàm phán Uruguay.Theo đó đến năm 2005, hệ thống quota xuất khẩu được áp dụng rộng khắp trong thương mại hàng dệt may từ những năm 60 sẽ được bãi bỏ, các nước nhập khẩu sẽ không được phân biệt đối xử giữa các nhà xuất khẩu với nhau. Khi đó Hiệp định dệt may sẽ không tồn tại nữa. ATC là hiệp định duy nhất của WTO tự đưa ra thời hạn chấm dứt của mình.

Theo ATC, toàn bộ sản phẩm dệt may sẽ hoàn toàn được hoà nhập vào hệ thống chính sách thương mại đa biên, quay trở lại với các quy định của GATT.

Các sản phẩm dệt may sẽ trở lại khuôn khổ của GATT trong vòng 10 năm. Bất kỳ quota nào tồn tại trước 31/12/1994 sẽ được đưa vào hiệp định và sẽ diễn ra quá trình loại bỏ hay còn gọi là các sản phẩm được nhất thể hoá.

Nới lỏng các hạn chế số lượng đối với các sản phẩm còn lại, từ hạn mức cơ sở được xác định (với mức tối thiểu quy định). Hiệp định cũng quy định tỷ lệ % số sản phẩm phải đưa vào khuôn khổ các quy định của GATT cho mỗi giai đoạn. Tỷ lệ này được tính theo số lượng nhập khẩu hàng dệt may vào năm 1990. Hiệp định ATC cũng quy định khối lượng của quota cũng phải được tăng dần hàng năm và tỷ lệ tăng này phải cao hơn cho các giai đoạn sau.

 Hiệp định cho phép trong thời kỳ chuyển tiếp được áp dụng các biện pháp tự vệ. Chỉ những thành viên đã tiến hành chương trình “nhất thể hoá” mới được áp dụng các biện pháp này. Tuy nhiên các nước nhập khẩu phải chứng minh được rằng có thiệt hại nghiêm trọng hoặc có đe dọa về thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra. Nước đó cũng phải chứng minh thiệt hại đó là kết quả của hai yếu tố: tăng nhập khẩu từ tất cả các nguồn và tăng đáng kể từ nguồn một nước xuất khẩu nhất định. Hiệp định cũng dự tính đối xử đặc biệt đối với một số nhóm nước: nước mới tham gia thị trường, nước nhỏ và nước chậm phát triển nhất.  WTO có một cơ quan giám sát hàng dệt (TMB), giám sát việc thực hiện hiệp định.

2.2 Những cơ hội.

Hàng dệt may là lĩnh vực các nước đang phát triển có lợi thế và tiềm năng phát triển cao. Hiệp định dệt may được ký kết đã thể hiện được lợi ích thiết thực đối với các nước đang phát triển. Nhiều nước phát triển đã cho rằng: mở cửa lĩnh vực này là đem lại lợi ích nhất cho các nước đang phát triển.

Cũng giống như mặt hàng nông sản, tự do hoá thương mại hàng dệt may đã khiến cho thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may của các nước đang phát triển được mở rộng. Khi hạn ngạch được xoá bỏ, các nước đang phát triển có nhiều cơ hội  hơn trong việc tiếp cận thị trường thế giới, không còn bị hạn chế về khối lượng xuất khẩu, gia tăng đáng kể cơ hội xuất khẩu mặt hàng này. Sản phẩm dệt may từ các nước đang phát triển có thể tràn ngập thị trường thế giới, có thể cạnh tranh được với sản phẩm của các nước phát triển.

Cạnh tranh giữa sản phẩm nội địa và nước ngoài càng trở nên gay gắt, điều này đã khiến cho các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển phải điều chỉnh lại quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để có thể đứng vững, cạnh tranh và giữ được thị phần của mình trong nước và mở rộng thị phần quốc tế. Chính trong quá trình chuyển đổi này, nền công nghiệp dệt may của các nước đang phát triển đã tiến bộ rất nhiều. Kinh nghiệm, trình độ quản lí được nâng cao, công nghệ và thiết bị được hiện đại hóa, năng suất lao động tăng lên, chất lượng sản phẩm dệt may ngày càng tốt hơn rất nhiều, giá thành hạ,tạo được thế đứng vững hơn trong thị trường.

Trong hiệp định ATC, các nước phát triển đã phải ràng buộc những cam kết kỹ thuật của họ, điều này tạo điều kiện cho các nước đang phát triển có thể tìm hiểu trước được yêu cầu của các nước phát triển, đối với từng loại hàng dệt may, để từ đó sản xuất và xuất khẩu sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu thị trường.

 2.3 Những thách thức

Mặc dù Hiệp định về hàng dệt may ATC là một hiệp định là có lợi nhất đối với các nước đang phát triển, tuy vậy nền công nghiệp dệt may của các nước này cũng phải đứng trước những thách thức không nhỏ ,khi phải tuân thủ các yêu cầu của Hiệp định và dưới sự chèp ép liên tục của các nước phát triển.

Các nước cùng nhau xoá bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may, thị trường được mở rộng, điều này đồng nghĩa với việc các nước đang phát triển phải đối đầu với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.Các nước đang phát triển phải tự xem xét và quyết định là hàng dệt may của mình có thể cạnh tranh được với các nước khác hay không. Tại các nước đang phát triển ưu thế lớn nhất là giá nhân công thấp, nhưng do vốn sản xuất hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, việc đầu tư đổi mới kĩ thuật còn chậm, lực lượng lại phân tán, tản mạn. Hầu hết các nước đang phát triển đều tồn tại nền sản xuất nhỏ,  thủ công chiếm  đa số  (trừ một số nước có nền công nghiệp phát triển tương đối như Thái Lan, Malaysia, Braxin, Mehico…), nên khối lượng sản phẩm không nhiều, chất lượng không đồng đều, thấp,mẫu mã chậm đổi mới. Chính vì vậy, rất khó khăn cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Các nước đang phát triển có thể xuất khẩu sản phẩm dệt may không hạn chế định lượng, tuy nhiên có nhiều nước chưa đủ khả năng cung cấp đủ sản lượng sản phẩm, thậm chí có nước còn chưa đạt đến mức hạn ngạch được xoá bỏ. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến thị phần của các nước này trên thị trường nước ngoài, thậm chí thị phần trong nước cũng bị đe dọa do sự tràn ngập sản phẩm của nước ngoài.

Một khó khăn mà các nước đang phát triển phải gánh chịu tiếp là vấn đề các nước phát triển tuy đã ràng buộc những cam kết kỹ thuật sản phẩm dệt may, nhưng họ chỉ làm vậy với các sản phẩm không được bản hộ hàng đầu. Đối với các  loại mặt hàng này, các nước đang phát triển sẽ rất khó khăn trong việc tiếp cận thị trường, thâm nhập thị trường của các nước phát triển.

Thực tế, mặc dù có nhiều lợi ích trong Hiệp định hàng dệt may nhưng thay cho việc các nước đang phát triển phải tăng xuất khẩu nhiều hơn trong lĩnh vực này so với các nước phát triển thì xu thế có vẻ ngược lại. Hàng dệt may xuất khẩu của các nước đang phát triển chỉ tăng 4,5% trong vòng 5 năm qua từ năm 1995 – 2000, trong khi của các nước phát triển đã tăng 9% trong cùng khoảng thời gian đó.

 3 Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATT)

3.1 Nội dung.

Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS) là hệ thống các quy định đầu tiên từ trước đến nay mang tính đa biên, điều chỉnh thương mại dịch vụ. Hiệp định này được đàm phán tại vòng Uruguay.

Hiệp định GATS bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Các nghĩa vụ và nguyên tắc cơ bản.

+ Các phụ lục giải quyết các chuyên ngành cụ thể.

+ Các cam kết cụ thể của mỗi nước nhằm mục đích mở cửa thị trường của nước họ.

+ Các danh mục các nước thôi không áp dụng nguyên tắc MFN về không phân biệt đối xử.

Một uỷ ban về Thương mại dịch vụ của WTO giám sát việc thực hiện hiệp định.

Bộ khung các điều khoản của Hiệp định GATS (29 điều khoảng của GATS áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ). Chúng chứa đựng tất cả các nguyên tắc mà các nước phải tuân thủ :

  • · Hiệp định áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ mua bán trên thế giới. Nó bao gồm tất cả các hình thức cung cấp dịch vụ; GATS xác định có bốn phương thức sau :

+ Cung cấp dịch vụ qua biên giới: Dịch vụ được cung cấp thông qua sự vận động của chính bản thân dịch vụ đó, từ nước này sang nước khác.

+ Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài: người tiêu dùng hay công ty tiêu thụ dịch vụ ở một nước khác.

+ Hiện diện thương mại: Một công ty nước ngoài thành lập một chi nhánh hay công ty tại một nước khác để cung cấp dịch vụ.

+ Hiện diện của tự nhiên nhân: Các cá nhân đi từ một nước này sang nước khác để cung cấp dịch vụ.

  • · Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Theo quy định của GATS, nếu một nước cho phép cạnh tranh nước ngoài ở một lĩnh vực dịch vụ thì phải tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho tất cả các thành viên WTO. Tuy vậy vẫn có một số trường hợp ngoại lệ.
  • · Đãi ngộ quốc gia (NT): Đối xử như nhau giữa các nước thành viên. Đối với GATS chỉ áp dụng tại những ngành có cam kết cụ thể và được phép miễn trừ.

· Minh bạch hoá: Các chính phủ phải công bố luật và quy định của mình, thông báo tất cả những thay đổi về luật lệ áp dụng cho những ngành có cam kết cụ thể.

  • · Thanh toán và chuyển tiền quốc tế: Một khi các chính phủ đã có những cam kết mở cửa thị trường dịch vụ cho cạnh tranh nước ngoài thì họ không được áp dụng các hạn chế đối với việc chuyển tiền thanh toán ra nước ngoài cho dịch vụ đó. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là trong trường hợp gặp khó khăn về cán cân thanh toán, nhưng các hạn chế cũng chỉ mang tính tạm thời và phải có điều kiện.
  • · Các cam kết cụ thể: Cam kết của từng nước về mở cửa thị trường của từng ngành cụ thể, được tổng hợp trong một danh mục các cam kết, danh mục này liệt kê tất cả các ngành được mở cửa và mức độ mở cửa của ngành đó. Các cam kết này đều mang tính rành buộc, chúng chỉ có thể được thay đổi hoặc loại bỏ, sau khi đã thương lượng về đền bù với các nước bị ảnh hưởng.
  • · Tự do hoá từng bước: Vòng Urugoay chỉ là bước đầu. GATS quy định phải tự do hoá hơn nữa với cuộc đàm phán đầu tiên được bắt đầu sau 5 năm bắt đầu từ năm2000.

Sau vòng đàm phán Urugoay, nhiều cuộc đàm phán về thương mại và dịch vụ đã được tiến hành và đi đến ký kết một số hiệp định, như hiệp định về thông tin viễn thông cơ bản, công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính… Các nước thành viên đã nhất trí về chương trình nghị sự để tiếp tục đàm phán mở rộng tự do thương mại dịch vụ vào thiên niên kỷ mới.

 3.2. Những cơ hội

Nhìn chung, GATS chưa đem lại được nhiều cơ hội và lợi ích cho các nước đang phát triển. Những thứ mà các nước này nhận được chỉ là một phần lợi ích rất nhỏ so với những cơ hội và lợi ích mà các nước phát triển giành được từ hiệp định này. Tuy vậy, chúng ta không thể phủ nhận được những cơ hội mà GATS  mang lại.

Một trong những mục tiêu mà GATS ghi nhận là giúp phát triển xuất khẩu của các nước đang phát triển và bảo đảm cho họ có cơ hội xuất khẩu những dịch vụ mà họ có khả năng, qua đó mở rộng sự tham gia của các nước đang phát triển trong thương mại thế giới về dịch vụ. Tuy chỉ có một số tập đoàn lớn của các nước đang phát triển hiện tại là có năng lực xuất khẩu dịch vụ ra nước ngoài, nhưng điều đó cũng khẳng định trong tương lai vấn đề mở rộng thị trường thương mại dịch vụ của các nước đang phát triển là có cơ hội tăng lên.

GATS bao gồm tất cả các dịch vụ như dịch vụ tài chính, dịch vụ kinh doanh, viễn thông, dịch vụ liên quan đến xây dựng, dịch vụ hàng hải và cảng, y tế, giáo dục, các dịch vụ nghe nhìn… Tự do hoá thương mại dịch vụ có thể mang lại lợi ích cho người tiêu dùng ở các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển nhập khẩu các dịch vụ trên từ nước ngoài vào, trong nước có sự cạnh tranh giữa các ngành dịch vụ trong và ngoài nước với nhau, do vậy giá thành của các ngành dịch vụ này có thể rẻ hơn rất nhiều. Ví dụ như cước phí viễn thông, giá điện, nước rẻ hơn do không còn sự độc quyền của nhà nước, cước phí vận tải cũng được hạ thấp. Bên cạnh đó, nguồn tài chính cho sản xuất và tiêu dùng có thể dồi dào hơn, hàng hoá có chất lượng tốt hơn, tin cậy hơn và giá cũng thấp hơn. Các nhà sản xuất kinh doanh bản địa có thể tiếp cận được với những dịch vụ kinh doanh hữu ích, người dân có thể tiếp cận với những dịch vụ y tế, giáo dục đa dạng hơn và chất lượng cũng tốt hơn.

Cơ hội tiếp theo mà GATS đã đem lại cho các nước đang phát triển là thoả thuận trong vấn đề di chuyển của tự nhiên nhân. Hiệp định GATS có hiệu lực, điều này có nghĩa là mọi người lao động đều có thể tự do xuất ngoại để làm việc hay cung cấp những dịch vụ khác. Người lao động tại các nước đang phát triển được tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc đi lại giữa các nước thành viên để cung cấp dịch vụ. Các bác sỹ, luật sư, nhân viên kế toán của những nước này được chấp nhận tại các nước phát triển là thành viên.

3.3. Những thách thức.

Hiệp định thương mại dịch vụ là một trong những hiệp định bất lợi nhất đối với các nước đang phát triển. Như đã đề cập đến tại phần trước, các nước đang phát triển được lợi rất ít từ GATS, trong khi đó những thách thức và khó khăn thì cực kỳ to lớn.

Thực tế, Hiệp định GATS phục vụ cho mục đích của các nước phát triển để có thể thâm nhập dễ dàng hơn và chiếm lĩnh thị trường dịch vụ của các nước đang phát triển như trong các lĩnh vực bảo hiểm, hàng không, bưu chính viễn thông, ngân hàng, vận tải, y tế… Những ngành này trước đây được chính phủ các nước đang phát triển bảo hộ rất cao. Đặc biệt là bảo hiểm, ngân hàng, viễn thông, giờ đây sẽ phải mở cửa để cho các nước phát triển tự do thâm nhập, các nhà cung cấp dịch vụ trong nước sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu trên thế giới, tất cả các ưu đãi sẽ phải được đối xử công bằng giữa các nhà cung cấp dịch vụ của nước ngoài và trong nước. Hơn nữa, các lĩnh vực dịch vụ này tại các nước đang phát triển hầu như không có gì để xuất khẩu ra nước ngoài vì các lĩnh vực dịch vụ này còn non trẻ, phát triển với kỹ thuật công nghệ chưa cao, thậm chí còn rất lạc hậu, thực tế là không thể cạnh tranh nổi với các cường quốc kinh tế kĩ thuật. Vì vậy, về trước mắt cũng như lâu dài, việc giữ vững thị trường trong nước và mở cửa thị trường dịch vụ nước ngoài sẽ đặt các nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ bản địa của các nước đang phát triển trước những khó khăn to lớn, gay gắt và ít có cơ hội để phát triển và canh tranh. Hơn nữa, để phát triển những dịch vụ này cần có nguồn vốn rất lớn và lao động có trình độ trí thức cao. Trong khi đó tại các nước đang phát triển, hiện tại hai yếu tố này còn rất thiếu và trong tương lai cũng ít có khả năng và nguồn lực để phát triển. Nói cách khác là các nước đang phát triển sẽ không lúc nào có đủ khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực này với các nước phát triển. Hiện nay các nước đang phát triển vẫn còn phải nhập siêu rất lớn các dịch vụ từ các nước phát triển. Như vậy, tự do thương mại dịch vụ sẽ dẫn đến thương mại một chiều ở các nước đang phát triển, chỉ nhập khẩu chứ không có năng lực xuất khẩu và các nước đang phát triển sẽ mất các cơ hội để xây dựng và phát triển các lĩnh vực dịch vụ này.

Bên cạnh đó, vấn đề mà được các nước đang phát triển quan tâm và cảm thấy được lợi từ hiệp định GATS như là: “ sự di chuyển của tự nhiên nhân” thì chỉ đạt được kết quả rất khiêm tốn, chỉ có ý nghĩa rất nhỏ đối với  nhu cầu quá lớn các nước này.

Mua sắm của chính phủ là một vấn đề đã và đang được đưa ra đàm phán trong hội nghị của WTO. Nếu các nước thoả thuận và ký kết về lĩnh vực này thì các nước đang phát triển lại vấp phải một thử thách khác nữa không kém phần gay go quyết liệt. Thông thường vấn đề mua sắm của chính phủ được giao cho các nhà cung cấp nội địa, đây là  hình thức, một mặt tăng nguồn thu cho ngân sách, một mặt là biện pháp kích thích kinh tế nội địa phát triển. Mục tiêu của WTO là đưa các quyết định, thủ tục, chính sách chỉ tiêu của chính phủ tất cả các nước thành viên vào dưới sự bảo hộ của WTO, nơi mà nguyên tắc đối xử quốc gia sẽ được áp dụng. Và theo nguyên tắc này, chính phủ các nước đang phát triển sẽ không còn được dành quyền ưu đãi cho công dân hoặc doanh nghiệp nước mình trong việc mua sắm và kí các hợp đồng, dự án mà phải mở cửa cho các công ty nước ngoài tham gia và dành cho những công ty này những cơ hội tương tự như các cá nhân, doanh nghiệp trong nước. Các công ty của các nước phát triển sẽ xâm nhập nhiều hơn nữa và không ngừng vào nền kinh tế của các nước đang phát triển, trong khi đó các công ty của các nước đang phát triển lại không đủ năng lực, bình đẳng canh tranh khi cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các nước phát triển.

Do vậy có thể nói phần lợi mà các nước đang phát triển có thể có được từ việc tự do hoá thương mại dịch vụ thật sự không đáng kể so với phần lợi mà các nước phát triển có thể có.

4. Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs)

4.1. Nội dung.

Cùng với quá trình phát triển của thương mại quốc tế, dòng lưu chuyển vốn đầu tư giữa các nước không ngừng tăng lên trong những năm qua. Tốc độ tăng trưởng đầu tư quốc tế đã vượt qua tốc độ tăng trưởng thương mại giữa các nước.

Khi bắt đầu vòng đàm phán Urugoay, các bên đều mong muốn đi đến một hiệp định đầu tư đa phương tương đối toàn diện, đề cập đến các vấn đề chính sách có tác động đến lưu chuyển đầu tư trực tiếp nước ngoài, vấn đề áp dụng nguyên tắc của GATS là đãi ngộ quốc gia và nguyên tắc tối huệ quốc trong đầu tư. Tuy nhiên, kết quả đạt được tại vòng Urugoay là các nước chỉ đề cập đến một vấn đề đầu tư hẹp – Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs).

Hiệp định TRIMs chỉ áp dụng cho lĩnh vực thương mại hàng hoá. Trong số các biện pháp, có nhiều biện pháp đầu tư có tác động bóp méo thương mại. Vì vậy, TRIMs không cho phép các nước thành viên áp dụng 5 biện pháp được coi như vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia và không hạn chế về số lượng sau đây:

  • · TRIMS không phù hợp với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia, tức là gây ra sự phân biệt đối xử giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu:

Yêu cầu các doanh nghiệp phải mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất xứ trong nước hoặc từ một nguồn cung cấp trong nước.

Yêu cầu các doanh nghiệp chỉ được mua hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu được giới hạn trong một số tổng thể tính theo số lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất khẩu.

  • · TRIMs không phù hợp về nghĩa vụ loại bỏ các biện pháp hạn chế định lượng đối với xuất, nhập khẩu:

Hạn chế việc doanh nghiệp nhập khẩu dưới hình thức hạn chế chung hoặc hạn chế nhập khẩu trong giới hạn liên quan đến số lượng hoặc giá trị sản xuất trong nước mà doanh nghiệp đó xuất khẩu.

Hạn chế việc doanh nghiệp nhập khẩu bằng cách hạn chế khả năng tiếp cận đến nguồn ngoại hối liên quan đến nguồn thu ngoại hối của doanh nghiệp này.

Hạn chế việc doanh nghiệp xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu các sản phẩm cho dù được quy định dưới hình thức sản phẩm cụ thể hay hình thức số lượng hoặc giá trị sản xuất trong nước của doanh nghiệp.

Các nước được hưởng một khoảng thời gian chuyển tiếp để loại bỏ dần các biện pháp nêu trên. Thời gian chuyển tiếp với các nước phát triển là 2 năm, các nước đang phát triển là 5 năm, nước chậm phát triển là 7 năm, bắt đầu tính từ ngày 1/1/1995.

4.2. Những cơ hội.

Trong lĩnh vực đầu tư hiện nay,các nước đang phát triển đã có những cố  gắng đáng kể để tăng tổng số vốn đầu tư ra thị trường nước ngoài, nhất là sang các nước phát triển. Hiệp định TRIMs được thực thi sẽ tạo được nhiều điều kiện thuận lợi cho các công ty các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy được đầu tư hơn nữa ra nước ngoài, các công ty này sẽ tránh được các trở ngại của chính phủ các nước khác đối với các luồng vốn vào nước của họ.

4.3 Những thách thức.

  Hiệp định về đầu tư liên quan đến thương mại TRIMs không cho phép áp dụng yêu cầu về hàm lượng nội địa hoá, nhưng chính điều này lại đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển vì: Yêu cầu doanh nghiệp sử dụng sản phẩm có xuất xứ trong nước đồng nghĩa với việc tăng sử dụng các nguồn nguyên liệu, sản phẩm trong nước. Các hoạt động kinh tế trao đổi buôn bán nội địa nhờ đó cũng phát triển đáng kể, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế do đó cũng gia tăng. Việc không được phép áp dụng sử dụng hàm lượng nội địa có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của các nước này.

5. Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại   (TRIPS).

5.1 Nội dung.

Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1/1995. Đây là hiệp định đa phương toàn diện nhất về lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Ngày nay, vấn đề về sở hữu trí tuệ có một ý nghĩa quan trọng trong hoạt động thương mại, đã làm nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn và tranh chấp giữa các nước với nhau.Vì thế, quy định thương mại được thống nhất trên phưong diện quốc tế đối với quyền sở hữu trí tuệ là cách thức tiếp cận có tính ổn định và tạo được cơ sở để giải quyết tranh chấp có tính hệ thống hơn.

Vòng đàm phán Uruguay đã đạt được thành công rất lớn khi thoả thuận được một hiệp định về những khía cạnh của sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Theo hiệp định này, các nước thành viên có thể, nhưng không bị bắt buộc khi áp dụng mức bảo hộ cao hơn yêu cầu của hiệp định miễn là không trái với các điều khoản của hiệp định.

Lĩnh vực trong phạm vi điều chỉnh của TRIPS:

– Bản quyền và các quyền liên quan.

– Nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ.

– Chỉ định địa lý.

– Thiết kế công nghiệp.

– Thiếp kế về bản vi mạch.

– Các thông tin bí mật, kể cả bí mật thương mại.

Hiệp định điều chỉnh 5 vấn đề lớn:

Thứ nhất, về việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản về hệ thống thương mại và các hiệp định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ:

Các nguyên tắc cơ bản : đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc và vấn đề chuyển giao công nghệ. Khi một người phát minh hay chế tạo đươc cấp bản quyền hoặc bảo hộ quyền tác giả thì anh ta có quyền buộc người khác không được sao chép bất hợp pháp. Theo hiệp định, các vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ phải góp phần đổi mới kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.

Thứ hai, làm thế nào để bảo hộ công bằng đối với quyền sở hữu trí tuệ. Với mục tiêu đảm bảo các tiêu chuẩn về bảo hộ tương đương nhau ở tất cả các nước, cơ sở các ràng buộc đã có trong các Hiệp định quốc tế chủ yếu của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, tồn tại trước khi WTO ra đời, bao gồm:

+ Công ước Paris về bảo vệ sở hữu công nghiệp.

+ Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn chương và nghệ thuật.

Hiệp định TRIPS cho thêm một số lượng đáng kể các tiêu chuẩn mới và cao hơn.

Thứ ba, về việc thi hành các quyền sở hữu trí tuệ trong lãnh thổ của quốc gia.  Theo Hiệp định các Chính phủ cần phải bảo đảm quyền về sở hữu trí tuệ có thể được thực thi theo luật pháp nước mình và cần có những hình phạt đủ mạnh để hạn chế những vi phạm trong tương lai. Các văn bản phải hợp lý công bằng, không nên phức tạp một cách không cần thiết hay quá tốn kém.

Thứ tư, giải quyết về các tranh chấp trên vấn đề sở hữu trí tuệ giữa các nước thành viên WTO.

Thứ năm, các dàn xếp chuyển đổi đặc biệt khi hệ thống mới được đưa ra. TRIMS cho phép các thành viên có một khoảng thời gian chuyển đổi thích hợp để đảm bảo thực thi đầy đủ các nghĩa vụ.

5.2. Những cơ hội

Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại TRIPS đã mang lại một số cơ hội sau cho các nước đang phát triển:

Thứ tư, theo các nguyên tắc của TRIPS, tác phẩm và phát minh của các nước đang phát triển có thể được công nhận và được bảo vệ trên thị trường và lãnh thổ của tất cả các nước thành viên.

Thứ tư, các phương thức kinh doanh và bí mật thương mại của các doanh nghiệp, công ty của các nước này cũng được đảm bảo bởi hệ thống luật pháp qua việc thực thi các hiệp định TRIPS.

Thứ năm, Hiệp định TRIPS cũng có một số điều khoản tạo sự linh hoạt cho các nước thành viên mà các nước đang phát triển có thể tận dụng để giảm bớt những thách thức của TRIPS. Chẳng hạn như TRIPS cho phép các nước thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết đẻ bảo vệ sức khoẻ và dinh dưỡng cộng đồng, và để tăng cường lợi ích trong những lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế và kỹ thuật, với điều kiện là các biện pháp đó phù hợp với các điều khoản của TRIPS. Vận dụng sự cho phép này, các nước đang phát tiển có thể quy định bắt buộc các công ty nước ngoài phải chuyển giao kỹ thuật cho các công ty bản địa để các công ty này có thể sản xuất đựoc các sản phẩm cùng loại với giá rẻ hơn để phục vụ lợi ích cộng đồng.

5.3. Những thách thức

Thực chất, Hiệp định TRIPS là kết quả của sự vận động của các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, bởi vì những nước này là những nước được hưởng lợi nhiều nhất từ hiệp định này. Chính vì vậy, TRIPS đặt ra cho các nước đang phát triển những thử thách không nhỏ:

Thứ nhất, các nước đang phát triển là những nước có nền công nghiệp chưa phát triển hoặc phát triển sau, nên rất thiệt thòi khi tham gia Hiệp định TRIPS. Các ngành công nghiệp muốn phát triển cần phải có khả năng tiếp cận được với khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, nhưng hiện nay khi các nước đang phát triển coi việc sử dụng các phát minh khoa học, kỹ thuật là việc tiếp nhận sự phổ biến phát minh kĩ thuật, công nghệ của loài người thì các nước công nghiệp phát triển coi đó là hành vi ăn cắp bản quyền; Việc làm thông thường đó của các nước đang phát triển được coi là hành vi vi phạm nguyên tắc của Hiệp định TRIPS, do vậy tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hóa của các nước đang phát triển rất khó khăn vì họ không được sử dụng các phát minh, sáng chế công nghiệp… một cách bất hợp pháp.  Theo TRIPS các nước đang phát triển muốn sử dụng thì phải mua.Trong khi đó, trước đây các cường quốc kinh tế phát triển nền công nghiệp của mình đều bằng cách vay mượn, sao chép các sáng tạo công nghệ mà không phải đền bù gì cho chủ nhân của nó và coi nó là tài sản của nhân loại.

Thứ hai,  Hiệp định TRIPS đã định ra việc bảo hộ bằng sáng chế bất kể là sản phẩm hay quy trình sản xuất có thời hạn giá trị ít nhất là trong 20 năm; kéo dài thời gian bảo hộ các chất bán dẫn hoặc chíp vi tính, chế định các quy chế nghiêm ngặt để chống các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Lúc này giá cả hàng hoá được bảo hộ sẽ cao hơn trước và trong suốt thời hạn được bảo hộ buộc các nước đang phát triển phải chi ra một số tiền khổng lồ để mua quyền sử dụng chúng. Nhiều loại hàng hoá công nghiệp tại các nước đang phát triển sẽ rất thiếu thốn vì chi phí để sản xuất ra nó quá cao. Một ví dụ trong lĩnh vực dược phẩm: việc cấp bằng sáng chế đã làm cho giá thuốc tại ấn độ tăng từ 5 đến 10 lần. Trước khi Hiệp định có hiệu lực, Chính phủ các nước đang phát triển có thể không cấp bằng sáng chế cho dược phẩm hoặc chỉ cấp bằng có giá trị trong thời gian ngắn để các công ty trong nước có thể sản xuất dược phẩm cùng loại với giá thấp hơn. Một số nước chỉ cấp bằng sáng chế cho quy trình sản xuất để có thể sản xuất ra loại hàng đó với quy trình sản xuất khác. Nhưng khi TRIPS có hiệu lực và bảo hộ sáng chế trong thời hạn tối thiểu 20 năm thì chắc chắn giá thuốc sẽ cao hơn rất nhiều, do bị độc quyền và vì vậy, nhiều người dân tại các nước đang phát triển sẽ phải chịu cảnh thiếu thuốc trong khi thuốc được bày bán lan tràn tại các quầy thuốc, do giá thuốc  quá cao mà tiền thì họ không có đủ để mua.

Thứ ba, có nhiều người cho rằng, việc bảo hộ bằng sáng chế sẽ khuyến khích các công ty bản địa ở các nước đang phát triển đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các ngành công nghệ. Nhưng trên thực tế thì các nước đang phát triển không có khả năng đầu tư cho các hoạt động này do chi phí để nghiên cứu và phát triển một sản phẩm công nghiệp nào đó quá cao ngay cả đối với các nước phát triển. Ví dụ để nghiên cứu một hợp chất hoá chất mới cần phải chi ra 200 triệu USD. Thông thường chỉ có các công ty của các nước phát triển mới hơn thế nữa phải là một công ty nhà nước, tập đoàn lớn của nước phát triển mới có đủ tiềm lực để đầu tư phát triển một sản phẩm,công nghệ mới và họ nắm giữ bằng sáng chế. Các nước đang phát triển buộc phải mua bản quyền nếu muốn sản xuất ra các sản phẩm đó, hay sử dụng công nghệ đó.

Thứ tư, các nước đang phát triển cũng gặp phải khó khăn trong vấn đề chuyển giao công nghệ do các nước phát triển muốn giữ độc quyền hoặc đòi giá cao cho việc chuyển giao mà các công ty nội địa không thể chấp nhận được.

Thứ năm, Hiệp định TRIPS được coi là một thắng lợi của công nghệ kỹ thuật cao của Mỹ, Mỹ muốn kiểm soát chặt chẽ về việc phổ biến cách tân công nghệ này. Vấn đề phát triển các ngành kỹ thuật cao như phần mềm, phần cứng tin học điện tử, công nghệ sinh học, laser… rất quan trọng đối với mỗi nền kinh tế. Khi các nước đang phát triển muốn chế tạo ra các phần mềm, lắp ráp vi tính… thì buộc phải mua với giá cắt cổ bản quyền của nhiều quy trình công nghệ khác nhau, mà phần lớn thuộc các công ty lớn của Hoa Kỳ. Do vậy nếu họ tổ chức sản xuất thì hoặc là sản phẩm sản xuất ra với giá rất cao, khó bán được hàng, hoặc là lợi nhuận thu được rất thấp. Điều này không khuyến khích các hoạt động cách tân phát triển công nghệ tại các nước đang phát triển. Các nước này thà mua luôn công nghệ mới không cần mất thời gian để sáng tạo. Và chính vì vậy công nghệ kỹ thuật của các nước đang phát triển sẽ không phát triển được, luôn đi sau và ngày càng bị lệ thuộc vào các nước phát triển.

Thứ sáu, Hiệp định TRIPS cũng bảo hộ sáng chế cho các loại cây trồng với lý do là khuyến khích lai tạo giống mới. Theo quy định của TRIPS  người nắm giữ bằng sáng chế một loại giống nào đó, có quyền cấm nông dân dùng giống giữ lại từ những vụ gieo trồng trước để gieo lại. Điều kiện này làm cho giá lương thực ở các nước đang phát triển tăng cao vì phải trả tiền mua giống do chính mình sản xuất ra. Không chỉ có vậy, TRIPS với việc khai thông quá trình tư nhân hóa các sản phẩm phát triển qua quá trình lai tạo hoặc biến đổi gen do chính các nước triển khai thực hiện là sự đe doạ đối với  nông thôn các nước đang phát triển. Chỉ cần được cải biến, dù rất ít các sản phẩm gen có thể được cấp bằng sáng chế, vì vậy hiện nay có rất nhiều công ty đặc biệt từ các nước phát triển có thể lấy một cây trồng tại các nước đang phát triển cải biến nó sau đó xin cấp bằng sáng chế, thu lợi nhuận mà không phải trả một khoảng tiền nào cho cộng đồng đã sử dụng kiến thức truyền thống để duy trì và phát triển giống cây trồng đó. Ví dụ, công ty dược phẩm Merck ở Châu Âu dường như thu được nhiều lợi nhuận qua việc phát triển một chất chống đông máu được chiết xuất từ cây tikluba mà dân vùng Amazon đã sử dụng lâu đời.

* Trên đây là những tóm tắt sơ lược về những cơ hội và thách thức đặt ra đối với các nước đang phát triển trong quá trình thực thi một số Hiệp định cơ bản của WTO. Từ đó chúng ta có thể nắm bắt được những vấn đề mà các nước đang phát triển  phải đối mặt và trên cơ sở đó có thể cùng tìm ra các giải pháp nhằm thúc đẩy và đem lại lợi ích cao hơn cho nhóm nước đang phát triển trong tổ chức WTO.