Những đặc điểm về vốn, lao động trong sản xuất kinh doanh

1. Kinh tế tư bản tư nhân.

– Về vốn sản xuất: Vốn của doanh nghiệp tăng nhanh cả về vốn đăng ký kinh doanh , tổng vốn thực tế sử dụng và vốn đầu tư phát triển.
Tổng vốn đăng ký của các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần từ năm 1991 đến hết tháng 9 năm 2001 đạt 50.795,142 tỷ đồng; năm 2000 tăng 87,5 lần so với năm 1991. Trong đó doanh nghiệp tư nhân đăng ký 11.470,175 tỷ đồng chiếm 22,85%; công ty trách nhiêm hữu hạn đăng ký 29.064,160 tỷ đồng chiếm 57,22%; công ty cổ phần đăng ký 10.260,770 tỷ đồng, chiếm 20,20%

Tổng vốn đăng ký kinh doanh liên tục tăng cùng với số doanh nghiệp đăng ký tăng. Số vốn đăng ký tăng từ 13.000 tỷ đồng năm 2000 lên 26.500 tỷ đồng năm 2001; 4 tháng đầu năm 2002 vốn đăng ký kinh doanh tăng thêm 8.767 tỷ đồng.

Tính từ khi có Luật doanh nghiệp đến hết tháng 4-2002 cả nước có trên 41.000 doanh nghiệp mới thành lập với tổng vốn đăng ký tương đương 3,6 tỷ USD.

Bình quân vốn đăng ký của một doanh nghiệp mới cũng không ngừng tăng lên, từ 900 triệu đồng năm 2000 lên 1.300 triệu đồng năm 2001 và 1.500 triệu đồng vào năm 2002. Nếu tính cả số vốn điều chỉnh bổ sung của các doanh nghiệp thì tổng số vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước trong hơn 2 năm 2001-2002 đạt khoảng 60.000 tỷ đồng, tương đương 4 tỷ USD.
Tổng vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp cũng tăng nhanh. Năm 2000 là 110.071 tỷ đồng, tăng 38,46% so với năm 1999; trong đó của công ty trách nhiệm hữu hạn tăng 40%, doanh nghiệp tư nhân tăng 37,64%, công ty cổ phần tăng 36,7%. Năm 2000 khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đầu tư mua 20,3% cổ phần của doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá.

Tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tư nhân tăng cả về lượng vốn và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân và của toàn xã hội. Tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tăng từ 17,84% năm 1999 lên 18,46% năm 2000; tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ 4,29% năm 1999 lên 4,49% năm 2000.

Năm 2000, tổng vốn sử dụng của doanh nghiệp tư nhân phi nông nghiệp là 173.862 tỷ đồng, tăng 38,46% so với năm 1999. Vốn đầu tư phát triển của khu vực này năm 2000 là 17.981,6 tỷ, tăng 16,53% so với năm 1999. Trong ngành nông nghiệp năm 2000 vốn đăng ký kinh doanh tư nhân đạt 1.036 tỷ đồng; vốn đầu tư phát triển của hộ gia đình đạt 17.633 tỷ đồng tăng 11% so với năm 1999.

-Lực lượng lao động của khu vực kinh tế tư bản tư nhân: Tính từ năm 1996 –2000 số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân phi nông nghiệp trong các năm đều tăng trừ năm 1997. So với tổng số lao động toàn xã hội thì khu vực này chiếm tỷ lệ khoảng 11% qua các năm, riêng năm 2000 là 12%. Năm 2000, lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kể cả khu vực nông nghiệp là 21.017.326 người, chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xduyên trong cả nước.

Trong các ngành phi nông nghiệp, số lao động khu vực kinh tế tư bản tư nhân năm 2000 là 4.643.844 lao động, tăng 20,12% so với năm 1996; bình quân mỗi năm tăng 194.670 lao động, tăng 4,75%/năm. Trong 4 năm từ 1997 đến năm 2000 riêng khu vực này thu hút thêm 997.019 lao động, gấp 6,6 lần so với khu vực kinh tế nhà nước.

Năm 2000, lao động khu vực kinh tế tư bản tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có 16.373.482 người, chiếm 63,9% tổng số lao động nông nghiệp toàn quốc. Trong đó các trang trại thu hút 363.048 lao động, chiếm 2,22%; các doanh nghiệp nông nghiệp thu hút 53.097 lao động chiếm 0,33%.

Năm 2000, trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân các ngành phi nông nghiệp, lao động trong công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất. Lao động trong công nghiệp có 2.121.228 người, chiếm 45,67%; lao động trong ngành thương mại, dịch vụ 1.735.824 người, chiếm tỷ trọng 37,37%; lao động các ngành khác 786.729 người, chiếm 16,94%. Tính từ năm 1996-2000, lao động trong công nghiệp tăng nhiều hơn ngành thương mại, dịch vụ. Năm 2000 so với năm 1996 lao động trong công nghiệp thêm được 336.442 người, tăng 20,68%; trong khi lao động thương mại, dịch vụ thêm được 271.476 người. Lao động công nghiệp ở doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh hơn ở hộ kinh doanh cá thể; năm 2000 so với năm 1996, lao động công nghiệp ở doanh nghiệp tăng 114,02%; lao động công nghiệp ở hộ kinh doanh cá thể chỉ tăng được 6,4%.

2. Kinh tế cá thể tiểu chủ.

Hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn, phát triển rộng rãi từ nhiều năm nay. Số hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp từ 1.498.611 hộ năm 1992 tăng lên 2.016.259 hộ năm 1996. Tốc độ tăng bình quân 7,68%/năm mỗi năm tăng bình quân 129.412 hộ.
Từ năm 1996 đến năm 2000 số lượng hộ kinh doanh cá thể tăng chậm, đến năm 2000 mới có 2.137.731 hộ, bình quân tăng 1,47%/năm, mỗi năm tăng 30.300 hộ cá thể phi nông nghiệp. Hộ nông nghiệp ngoài hợp tác xã năm 2000 có 7.656.165 hộ. Tổng cộng năm 2000 có 9.793.787 hộ kinh doanh cá thể.

Trong cơ cấu ngành nghề đến thời điểm ngày 31-12-2000, hộ cá thể kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng 51,9%(1.109.293 hộ); sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng 30,2%(645.801 hộ), giao thông vận tải chiếm 11,63%; xây dựng 0,81%; các hoạt động khác chiếm 5,46%.

Hộ kinh doanh cá thể phân bố không đều giữa các địa phương. Đến thời điểm 31-12-2000, năm địa phương có số hộ nhiều nhất là thành phố Hà Nội :92.302 hộ, Hà Tây:97.180 hộ, Thanh Hoá: 96.777 hộ,thành phố Hồ Chí Minh:184.463 hộ, Đồng Tháp:95.049 hộ. Tổng cộng là 565.771 hộ chiếm 26% cả nước. Năm địa phương có số hộ ít nhất là Bắc Cạn:4.454 hộ, Hà Giang:7.575 hộ, Lai Châu: 8.201 hộ, Lào Cai:9.029 hộ, Sơn La:9,325 hộ. Tổng cộng là 38.584 hộ chỉ chiếm 1,8% cả nước.

Quy mô của hộ kinh doanh cá thể nói chung rất nhỏ, sử dụng lao động trong gia đình là chính, trung bình mỗi hộ có 1-2 lao động. Vốn kinh doanh ít. Ngoại lệ, qua khảo sát thực tế ở các thành phố lớn, có nhiều hộ kinh doanh cá thể thuê đến hàng chục thậm chí đến hàng trăm lao động.
Vốn của hộ kinh doanh cá thể năm 2000 là 29.267 tỷ đồng tăng 12,93% so với năm 1999. Vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể năm 2000 chiếm 81,54% trong tổng số vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư bản tư nhân và chiếm 19,82% vốn đầu tư toàn xã hội.
Tổng vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể là 63.668 tỷ đồng, chiếm 36,61% trong tổng số vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư bản tư nhân.