Những giải pháp cơ bản để nâng cao khả năng cạnh tranh

1. Phát triển nguồn nhân lực.

Con người là một chủ thể, là một nhân tốđặc biệt trong số các nhân tố đầu vào của mọi hoạt động kinh tế. Nó khác biệt với các nhân tố khác vì nó vừa là nhân tố động lực đảm bảo cho sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung, song đồng thời cũng là mục tiêu phục vụ mà các doanh nghiệp và cả xã hội phải hướng tới. Là một chủ thể đặc biệt như vậy,vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển, là một chủ thể sống, cùng vận động để tồn tại và phát triển trong một xã hội luôn biến động và không ngừng phát triển, do vậy khi xet đến chủ thể nay như một nhân tố tích cực trong việc nâng cao sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung thì cần phải chú ý hai mặt:

_ Làm sao để phát huy vai trò động lực của con người, tạo điều kiện để họ đóng góp cho xã hội được nhiều hơn.
_ Mặt khác, muốn “con tằm nhả tơ óng mượt hơn” thì phải đầu tư vào con người nhiều hơn, phải phục vụ họ được tốt hơn, tạo môi trường để họ tin tưởng, tự tin trong công việc…Một khi họ đã gắn bó với sự sinh tồn của doanh nghiệp thì họ sẽ gắng sức không ngừng cải tiến đổi mới công nghệ, phát huy sức sáng tạo, nỗ lực trong việc tìm kiếm thị trường…nhằm tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhất.

Muốn vậy, để nâng cao sức cạnh tranh, thông qua yếu tố con người nên chăng cần chú ý giải quyết tốt những vấn đề sau:

Một là, không ngừng tạo điều kiện cho người lao động (bao gồm cả công nhân lao động lẫn đội ngũ quản lý ở mọi cấp) được học tập, được đào tạo và đào tạo lại.

Trong xã hội thông tin, viêc không ngừng nâng cao cập nhật kiến thức là một nhu cầu tất yếu, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà sự phát triển của mọi quốc gia đều hướng tới nền kinh tế tri thức- một xã hội tinh thần không ngừng học hỏi rèn luyện và nâng cao kiến thức.
Tuy nhiên, cũng nên phân định rõ sự cần thiết trong việc đào tạo ở hai cấp độ: đào tạo nhân lực nói chung và đào tạo nhân tài nói riêng. Đào tạo nhân lực là đào tạo để đáp ứng phổ cập những kiến thức cơ bản tuỳ theo từng trình độ. Phù hợp với nhu cầu phát triển trên diện rộng. Còn đào tạo nhân tài là đào tạo với mục đích, hình thành nên đội ngũ cán bộ giỏi, cán bộ đầu ngành trong từng lĩnh vực, để họ có đủ năng lực kiến thức và khả năng tư duy, suy nghĩ độc lập và sáng tạo, đủ sức đảm đương những trọng trách mà xã hội giao phó hoặc đủ tầm đạt tới những đỉnh cao của khoa học công nghệ mới.

Để nâng cao sức cạnh tranh thì việc đào tạo chuyên sâu là vô cùng cần thiết, vì có đào tạo chuyên sâu mới tạo ra đựơc độ ngũ quản lý giỏi. Ông cha ta đã từng nói “một người lo bằng một kho người làm”. Một khi có nhà lãnh đạo giỏi, họ là người am hiểu, nắm bắt được thực chất của vấn đề thì họ mới đặt ra những nhu cầu cần phải thực hiện để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để thực hiện được các yêu cầu đặt ra. Trong thực tế chúng ta thấy không ít trường hợp có nhiều doanh nghiệp được đầu tư cơ sở vật chất và nguồn vốn khá lớn song vẫn hoạt động không hiệu quả; tại sao những doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản song một khi chon đựơc giám đốc giỏi thì họ đã xoay chuyển được tình thế trên. Phải chăng lời giải ở đây chính là yếu tố con người. Chính vì vậy, việc đào tạo không thể thực hiện một cách hình thức, chạy theo số lượng mà luôn phải cần chú ý đến chấtlượng đào tạo.

Để đào tạo chuyên sâu, cũng cần phải chọn đúng người để đào tạo và đào tạo đúng những ngành có nhu cầu. Người đựơc cử đi học phải là những người có khả năng tiếp thu và là những người ham học, có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập. Khi họ đã chọn đúng đối tượng thì cũng phải thấy rằng những đối tượng này thường sẽ có những yêu cầu khá cao đối với hoạt động giảng dạy. Do vậy, để phục vụ tốt công tác đào tạo, cần phải xây dựng giáo trình tốt, thường xuyên cập nhật kiến thức, không ngừng cải tiến và đổi mới phương pháp giảng dạy để nội dung đào tạo mang tính thiết thực, đáp ứng kịp thới các nhu cầu luôn nảy sinh của một nền kinh tế đang phát triển. Bên cạnh đó, các thiết bị công cụ hỗ trợ thực hành bài giảng cũng cần đạt trình độ tiên tiến, tránh tình trạng các thiết bị này còn lạc hậu hơn so với các thiết bị đang vận hành tại các doanh nghiệp.
Vấn đề đào tạo chuyên môn cũng cần gắn liền với việc giao dục phẩm chất đạo đức và rèn luyện thể lực cho thế hệ mới. Một cơ thể khoẻ mạnh giàu sức sống cả về sức lực, trí tuệ và tinh thần sẽ là môi trường thuận lợi để hình thành và nuôi dưỡng nguồn tri thức tốt. Những hành động, quyết định của con người thông qua tri thức sẽ góp phần cải tạo, thúc đẩy xã hội phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội. Do vậy, nếu con người được đào tạo và rèn luyện với những phẩm chất tốt thì những hành động của họ sẽ mang tính nhân bản hơn và sẽ tích cực thúc đẩy xã hội phát triển.
Hai là, một vấn đề cũng không kém phần quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh thông qua yếu tố con người là tạo môi trường thuận lợi để người lao động được phát huy mọi tiềm năng sức sáng tạo của mình, đựơc cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp và của toàn xã hội.

Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng vì con người có được đào tạo tốt song nếu không có môi trường để phát huy thì chẳng khác nào đó là một món hàng chỉ để trưng bày và rồi cũng sẽ mai một theo thời gian, song nếu ngược lại, nếu có môi trường làm việc tốt thì những nhân tố này sẽ được phát huy và công hiến nhiều hơn.

Do vậy, để có thể cống hiến được thì con người phải có môi trường làm việc phù hợp và được đặt đúng vị trí theo đúng khả năng của mình.
Mặt khác, thông thường những người có tri thức là những người ham học hỏi thì ở một khía cạnh khác họ là những người mong được cống hiến và không chú ý nhiều đến vấn đề danh lợi. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để họ có thể phát huy khả năng đem những tri thức của mình cống hiến cho xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng, tạo ra được nhiều sáng kiến góp phần nâng cao sức cạnh tranh.

Có thể nói, sức sáng tạo của con người là một sức mạnh vô tận đã giúp con người chinh phục, chiến thắng thiên nhiên và làm nên những kỳ tích to lớn để tồn tại và phát triển. Vấn đề là phải làm sao giải phóng được những tiềm năng và sức sáng tạo này, đừng vì những suy nghĩ hẹp hòi, ganh đua mà triệt tiêu động lực sáng tạo và sức cống hiến của họ.

Ba là, một vấn đề nữa trong phát huy nhân tố con người để nâng cao sức cạnh tranh là giải quyết thoả đáng chế độ tiền lường.
Vấn đề này được đặt ra ở khía cạnh không phải chỉ là để tạo điều kiện cho họ an tâm làm việc mà còn xét đến ở khía cạnh kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh.

Khi chúng ta còn nghèo thì chúng ta phải tận dụng nhân công rẻ để nâng cao sức cạnh tranh, song nếu giá nhân công rẻ thì thường dẫn đến năng suất thấp, hiệu quả không cao. Ví dụ, từ lâu ta vẫn nói răng Việt Nam có lợi thế về nguồn nhân công giá rẻ trong những ngành thâm dụng lao động như ngành dệt may, da giày…, song nếu năng suất của một công nhân Việt Nam trong nganh may chỉ bằng 1/4 so với năng suất của một công nhân tại các nước phát triển thì rõ ràng giá nhân công rẻ không hẳn là một ưu thế. Và trong cuộc sống hiện tại, người ta thường có xu hướng sẵn sàng bỏ tiền ra để mua một mặt hàng chất lượng hơn, được đầu tư chất xám nhiều hơn mặc dù giá có thể cao hơn.

.2. Duy trì sức cạnh tranh chống độc quyền.

Tình trạng độc quyền một cách phổ biến trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế trong thời kì bao cấp, đặc biệt là trong thương mại đã tác động xấu đến nền kinh tế, làm cho nền kinh tế xơ cứng thiếu năng động. Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh trở thành động lực của sự phát triển vì thế đa số các chính phủ trong nền kinh tế thị trường đều chú trọng bảo vệ cạnh tranh chống độc quyền.

Mặc dù Việt Nam đã thực hiện đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường từ 15 năm qua nhưng tình trạng độc quyền vẫn tồn tại khá phổ biến nhất là đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước, đa số hàng hoá và dịch vụ trong các doanh nghiệp nhà nước đều có giá cả cao, các hàng hoá như nguyên liệu,vật tư, điện nước, chất đốt, xi măng và các dịch vụ thông tin có giá cao hơn các nước trong khu vực: giá điện cao hơn 50%, giá nước 70%, cước phí vận tải biển 27%, xi măng 7%, thép xây dựng 20USD/tấn, điện thoại quốc tế chi phí ở Việt Nam cao gấp 7 lần Singapore, gấp 2 lần so với Trung Quốc, giá thuê đất ở các thành phố ở Việt Nam cao hơn ở Trung Quốc từ 4-6 lần, cao hơn ở Thái Lan 6 lần đã làm tăng đáng kể các chi phí đầu vào, do đó nâng cao giá thành sản phẩm làm giảm khả năng cạnh tranh so với hàng hoá cùng loại của các nước bạn.

Trong số 17 tổng công ty 91 hiện chỉ có 5 tổng công ty làm ăn có lãi nhưng phần lớn là do độc quyền về giá cả, trong khi đó 12 tổng công ty còn lại bị thua lỗ hoặc hoà vốn. Sự tồn tại một cách nhập nhằng giữa độc quyền nhà nước với độc quyền doanh nghiệp, giữa mục tiêu công ích với mục tiêu lợi nhuận cộng với sự bảo hộ quá lớn của nhà nước dẫn đến hình thức hoá cạnh tranh làm cho cạnh tranh thiếu hiệu quả. Để nâng cao năng lực cạnh trang cho doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam cần thiết phải tạo một sân chơi bình đẳng về mặt pháp lý, không được phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế khác nhau, giữa quốc doanh và dân doanh để tiến tới hoạt động thống nhất theo luật doanh nghiệp, đẩy mạnh chống độc quyền thông qua bãi bỏ đặc quyền và những ưu đãi về thương mại, thuế, tín dụng, giải quyết nợ tồn đọng, cấp phép đầu tư, giao đất, quy định giá cả. Điều này một mặt tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, khơi dậy động lực phát triển, mặt khác thể hiện sự phù hợp với lộ trình cắt giảm thuế quan, để tiến tới khung thuế quan từ 0-5% vào năm 2006 mà doanh nghiệp Việt Nam vẫn có thể tồn tại được.

Nhà nước cần sớm ban hành luật chống độc quyền, luật phá sản, thực hiện giá các yếu tố đầu vào cơ bản như năng lượng, thông tin, giá thuê đất…ngang bằng với các nước trong khu vực và thế giới, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, mở rộng điều tiết nhà nước về kinh tế thông qua thuế một cách bình đẳng,đổi mới chính sách và cách sử dụng cán bộ là những yêu tố quan trọng tác động đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hang hoá Việt Nam trong hội nhập.

3. Khai thác lợi thế so sánh.

Trong nền kinh tế thị trường, tư duy cơ bản không còn là “bán cái mình có” mà là “bán cái thị trường cần”. Mặc dù thương mại mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia ở những mức độ khác nhau, nhưng hiệu quả cao nhất luôn thuộc về những quốc gia biết khai thác tôt nhât lợi thế so sánh của mình trong thương mại. Cần lưu ý rằng, cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh đều có khuynh hướng “ẩn, hiện” thường xuyên qua các giai đoạn, tuỳ thuộc sự phát hiện và lưạ chọn.

Việc lựa chọn đúng và đẩy mạnh đầu tư sản xuất các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh để tham gia thương mại quốc tế sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp và hàng hoá. Nhờ vậy mà nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh. ở Việt Nam hiện nay cần đẩy mạnh đầu tư vào các ngành có lợi thế như: chế biến thức ăn gia súc; xay xát, chế biến lương thực; sản xuất sản phẩm bơ sữa; chế biến thuỷ sản; thuốc trừ sâu, nông dược và phân bón; thuốc chữa bệnh; giày dép; may mặc quần áo; thiết bị thu hình, thu thanh, máy công cụ, máy chế biến thực phẩm…Nếu so sánh với các nước ASEAN, có thể thấy những mặt hàng nói trên của ta có tính cạnh tranh cao.

Có thể thấy rằng những ngành và sản phẩm có lợi thế thuộc về nhóm ngành công nghiệp chế biến, những ngành thâm dụng lao động, dựa vào tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực tại chỗ. Về lâu dài, phải đẩy mạnh đầu tư, nghiên cứu chiếm lĩnh các ngành thâm dụng các ngành công nghệ cao, lao động tri thức như công nghệ phần mềm, công nghệ điện tử tin học…

Ngoài, để nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp và hàng hoá VIệt Nam, cần phải giải quyết vốn đầu tư, cần có chính sách công nghệ theo hướng khuyến khích ứng dụng công nghệ mới, công nghệ kỹ thuật cao vào sản xuất kinh doanh để tăng năng suất lao động, hạn chế việc sử dụng công nghệ lạc hậu năng suất thấp, gây ô nhiễm môi trường.

Có một thay đổi lớn trong thị trường hàng hoá trong hai thập kỷ gần đây mà rất nhiều người đã bỏ qua. Đó là sự gia tăng dân chủ tiêu dùng. Điều nói đến ở đây chính là sự phát triển của rất nhiều nhân tố, đặc biệt là công nghệ và toàn cầu, mà người tiêu dùng lựa chọn hơn bao giờ hết. Có lẽ sự phát triển này được nhận thấy rõ nhất ở Đông Âu và Châu á. Với sự chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường, hoàn thiện về cơ sở hạ tầng và hệ thống phân phối, nhiều hàng hoá đã được trình bày bán tại các cửa hàng, siêu thị. Và kết quả, sự lựa chọn của khách hàng đã trở thành một yếu tố quan trọng của thị trường mà chỉ vàI năm trươcs đay nó vẫn chưa tồn tại. Cùng lúc đó do sự phát triển của công nghệ mà một thay đổi lớn đã xảy ra đối với các nhà sản xuâts. Khi một công ty cung cấp một sản phẩm mới cho thị trường thì xá đối thủ cạnh tranh cũng đưa ra được rất nhiều loại sản phẩm tường tự nếu không nói là hoàn toàn giống nhau.

Sự phát triển về thị trường tiêu thụ và cả khía cạnh xẩn xuất sẽ đưa đến những thách thức rất lớn nhưng nó cũng mang đến những cơ hội không nhỏ cho các doanh nghiệp. Thác thức ở đây là khía cạnh ngày càng khốc liệt hơn, vì thế các doanh nghiệp phảI nỗ lực phấn đấu hơn để đảm bảo rằng sản phẩm của mình sẽ tốt hơn và hy vọng rằng khách hàng có nhiều chọn lựa thì hộ sữ phảI đưa ra quy định của mình.
Gần đây, các doanh nghiệp Việt Na đã quan tâm hơn đế nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Họ tin rằng khi hoàn thieej chất lượng sản phẩm và giảm được giá thành thì sư nâng cao đợc đowjc vị thế cạnh tranh trên thị trường. Có lẽ niềm tin của họ hoàn toàn có cơ sở vì hàng Việt Nam đã có một chỗ đứng nhất định trong lòng người tiêu dùng. Tuy nhiên, những gì đã giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam đạt được thành công hiện nay không bảo đảm cho họ một vị thế cạnh tranh trong tương lai.

4. Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp tăng cường sức cạnh tranh bằng cách nào

Để tìm ra được vai trò của chính phủ Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế và doanh nghiệp, em xin trình bày bài học được rút ra từ một số nước đã thực hiện thành công.

Trước hết bằng chính sách công nghiệp thích hợp nhà nước hỗ trợ bằng các phương tiện bao gồm tự sự giúp đỡ tài chính các ngành công nghiệp cho đến sự định đoạt của nhà nước về mức sản xuất có lợi nhất. Các ngành được bảo trợ là những ngành quá ư già cỗi hoặc đang tàn lụi cũng như để nhằm tạo nên những ngành công nghiệp mới, đặc biệt là các ngành sản xuất cho xuất khẩu trong các khu vực kỹ thuật cao mới nổi lên. Bằng cách lựa chọn các ngành có nhiều triển vọng và các ngành đặc biệt cần phát triển và trợ giúo tài chính như trợ cấp xuất khẩu, các nhà nước tìm cách phát triển một cách có hệ thông lợi thế so sánh và tăng cường khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Hầu hết các nước đều có sự liên kết giữa chính phủ và các công ty lớn nhằm đảy mạnh xuất khẩu và chiếm lĩnh thị trường thế giới. Sự liên kết này ở một số nước thể hiện rất rõ ràng nhưng ỏ một số nươc khác lại được che đậy dươí những hình thức tinh tế. Ví dụ ở Mỹ các chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển quân sự là một trợ giúp quan trọng cho các công nghệ có ý nghĩa thương mại.

Nhật Bản là nước thường được kể ra nhă là một mẫu mực của sự thành công nhờ vào sự can thiệp, hướng dẫn của nhà nước đối với nền kinh tế. Nhật Bản đã thực hiện một cách có hệ thống những chính sách công nghiệp mà người ta cho rằng đã đầy được đất nước các hòn đảo nay từ tình trạng một nước thua trận để trở thành một nước có nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh nếu không nói là mạnh nhất thì cũng đứng hành thư nhì trên thế giới. Thắng lợi của các công ty Nhật Bản đã thúc đẩy hết nước này đến nước khác phải đề ra những chính sách công nghiệp và các chính sách liên quan để cải thiện và tăng cường vị trí kinh tế, thương mại của mình.

Chính sách công nghiệp thường được phối hợp với chế độ bảo hộ mới để thực hiện mục tiêu tạo ra một lợi thế so sánh và thành lập các ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trương quốc tế, đặc biệt là các mặt hàng công nghiệp có giá trị gia tăng cao và đây mạnh việt thực hiện chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Càng ngày càng có thêm nhiều nước tìm cách tìm giành cho được ưu thế trong việc sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng đòi hỏi kĩ thuật công nghệ cao.

Trong canh tranh kinh tế quốc tế, vai trò của công nghệ tiên tiến, hiện đại ngày càng tăng. Những thay đổi về công nghệ và việc mở rộngkỹ thuật công nghệ để tăng cường sức mạnh cạnh tranh và quyền quyết định trên thị trường bằng lợi thế so sánh đang dẫn tới những hình thức mới của chính phủ. Các quốc gia đang tìm mọi cách kìm hãm việc phổ biến các kỹ thuật công nghệ của họ trong khi đó lại đòi hỏi và buộc các nước khác phải chia sẻ những kỹ thuật công nghệ mà các nước đó nắm được. Sự hạn chế việc chuyển giao côgn nghệ vì lý do thương mại của các chính phủ đã được kéo dài thêm vì tầm quan trọng hai mặt của nó đối với việc áp dụng vào cả thương mại lẫn an ninh quốc gia. Vấn đề công nghệ đang trở thành một trong những việc trọng đại nhất trong nền kinh tế chính trị trên trương quốc tế.

Nhà nươc hỗ trợ cho các doanh nghiệp tăng cường sức cạnh tranh còn bằng chính sách vĩ mô nhằm tạo ra môi trường dễ dàng cho thị trương hoạt động và cho việc tích luỹ các nhân tố sản xuất cơ bản. Nó bao gồm không những chính sách tài chính và tiền tệ mà còn cả những chính sách chung như tăng cường nềngiáo dục, cấp kinh phí cho việ nghiên cứu phát triên cơ bản và khuyến khích tiết kiệm trong cả nước để đạt được tỷ lệ cao. Dân trí tăng lên cùng với tay nghề của người lao động, năng suất lao động tăng cùng với lợi thế so sánh quốc gia như Nhật Bản cũng là nước điển hình theo cách đó. Các nước NIC châu á cũng vậy. Những chính sách đó đã thúc đảy tích luỹ các nhân tố sản xuất cơ bản và tăng cương hiệu quả tổng thể của nền kinh tế, tạo nền tảng lợi thế so với các quốc gia để các công ty tăng cường sưc mạnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Bài học quan trọng nhất rút ra từ thắng lợ của Nhật Bản và các nước NIC châu á là một quan điểm luôn luôn thay đổi về lợi thế so sánh, ý nghĩa của nó đối với chính sách quốc gia, tập quán buôn bán và sau hết là cơ sở lý luận về phát triển. Những nước này đã chứng minh khá đầy đủ là chính sách quốc gia được hoạch định đúng đắn và kịp thời có thể tạo ra một lợi thế so sánh ở tầm vĩ mô và tạo điều kiện cho việc tích luỹ các nhân tố sản xuất. Mặc dù, các nhà kinh tế học từ lâu đã công nhận bản chất năng động của lơị thế so sánh nhưng thành công về cạnh tranh của Nhật Bản và các nước NIC châu á trong hai thập kỷ vừa qua đã mang lại một ý nghĩa mới cho việc đánh giá về lý thuyết thương mại này. của xã hộiuyết định của con người thông qua tri thức sẽ góp phần cải tạo, thúc đẩy xã hội phát triển hoặc kìm hãm