Những giải pháp về phát triển lực lượng sản xuất

1.Phát triển lực lượng sản xuất: Trước tiên ta cần chú ý đến việc phát triển lực lượng lao động xã hội, mà điểm cần lưu ý ở đây chính là làm thế nào để phát triển được nguồn nhân lực một cách có hiệu quả nhất?. Vì phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định triển vọng của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước được rút ngắn. Vai trò này thể hiện rõ trên những khía cạnh sau:

Một, khắc phục điểm yếu của nền kinh tế nước ta hiện nay là lao động thiếu kỹ năng và năng suất thấp, nâng cao sức cạnh tranh, hội nhập kinh tế thành công cũng như củng cố các cơ sở tăng trưởng bền vững.
Hai, đây là cách thức đúng đắn để đạt được mục tiêu phát triển con người.
Ba, phát triển nguồn nhân lực là tạo lập cơ sở quan trọng hàng đầu để nhanh chóng tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức.
Đại hội Đảng lần thứ IX coi phát triển nguồn nhân lực vừa là một chiến lược phát triển lâu dài, vừa là điểm đột phá phát triển của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn tới. Để thực hiện chủ chương này, Đại hội IX đã xác định phương hướng và hệ thống các giải pháp lớn, nhằm giải quyết hàng loạt vấn đề. Sau đây là một số vấn đề liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực, đó là những vấn đề về hai lĩnh vực: giáo dục, đào tạo và phát triển khoa học công nghệ.

Trước hết, về phương hướng và giải pháp đối với lĩnh vực giáo dục, đào tạo
– Định hướng mô hình phát triển kinh tế dựa trên cơ sở tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới sẽ là một trong những yếu tố quyết định phương hướng và nội cải cách giáo dục.
– Cải cách căn bản chương trình giáo dục, đào tạo.Chương trình giáo dục mới phải đáp ứng được mục tiêu tạo nền tảng tri thức để thực hiện mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn, phợp với yêu cầu của thời đại toàn cầu hoá và kinh tế tri thức. Phổ cập ngoại ngữ và tri thức tin học cơ bản phải là tiêu chuẩn trong hệ tiêu chuẩn phổ cập giáo dục.
– Có chương trình ưu tiên thiết lập rộng khắp cơ sở hạ tầng phù hợp cho hệ thống giáo dục, đào tạo với chi phí tiếp cận rẻ, trên những nguyên tắc và nội dung mới.
– Cách dạy và học cần chuyển mạnh sang hướng trang bị các phương pháp thu nhận, sử lý thông tin và tri thức, phát triển năng lực xác địng và giải quyết vấn đề.
– Mối liên hệ cần thiết giữa việc cung cấp nhân lực được đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực sẽ được thiết lập thông qua việc phát triển thị trường lao động và thị trường sản phẩm khoa học, công nghệ .
– Nhà nước đóng vai trò chủ lực trong việc củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến hàng phổ cập trung học cơ sở trong cả nước …, giúp đông đảo người nghèo có cơ hội tiếp cận tri thức cơ bản.
– Tích cực thực hiện chủ trương “xã hội hoá công tác giáo dục, đào tạo”.Vai trò của trường bán công, dân lập và các cách thức truyền tải giáo dục khác nhau cần được tiếp tục phát huy. Việc lôi cuốn khu vực doanh nghiệp tham gia vào việc phát triển hệ thống đào tạo nghề cần dược khuyến khích.

2. Đối với lĩnh vực khoa học- công nghệ:

Hệ thống khoa học- công nghệ của nước ta hiện còn bất cập so với yêu cầu phát triển. Nó cần được đổi mới căn bản và toàn diện. Ba nhiệm vụ lớn cần ưu tiên xử lý trong chiến lược phát triển khao học-công nghệ giai đoạn tới là:
Lựa chọn hướng phát triển khoa học-công nghệ ưu tiên. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là bước đi và thứ tự ưu tiên trong triển khai các chương trình công nghệ này. Đồng thời, trong giai đoạn trước mắt, cần đặc biệt coi trọng phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp, có khả năng thu hút nhiều lao động.
Đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu, thực hành trẻ có năng lực. Đây là khâu quyết định triển vọng phát triển của nền khoa học, công nghệ nói riêng và của Việt Nam nói chung.
Tạo dựng sự gắn kết có hiệu quả giữa hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học- công nghệ với các nhu cầu kinh tế-xã hội.
Giải pháp cho việc xây dựng ,phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN.

Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phải là con đường ra đời của phương thức sản xuất XHCN.Cùng với quá trình công nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ,tất yếu phải có quá trình phát triển tương ứng các quan hệ sản xuất mới .Về mặt kinh tế ,sự phát triển quá độ lên CNXH ở nước ta bỏ qua chế độ TBCN có nghĩa là chúng ta bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất TBCN ;các quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ ở nước ta phải vận hành theo định hướng XHCN.Tuy nhiên xuất phát từ một trình độ kinh tế lạc hậu ,để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất ,hoàn thiện được quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN là một nhiệm vô cùng khó khăn ,đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải đề ra chủ chương đúng đắn cho nhiệm vụ này . Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ,cải thiện đời sống nhân dân ,thực hiện công bằng xã hội.Điều này cũng chính là mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của ta nêu ra đó là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chât – kỹ thuật của CNXH ,nâng cao đời sống nhân dân,phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu ,quản lý và phân phối .

Thứ nhất là giải pháp cho vấn đề sở hữu đó là chế độ sở hữu công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu từng được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi CNXH được xây dựng xong về cơ bản .Phải từ thực tiễn tìm tòi ,thử nghiệm để xây dựng chế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN mới nói chung với những bước đi vững chắc . Đường lối đổi mới của Đảng đã đặt lại vai trò của sở hữu tư nhân trong công cuộc xây dựng CNXH.Thay cho việc xoá bỏ ngay lập tức sở hữu tư nhân là việc sử dụng lâu dài sở hữu tư nhân , hợp tác với các chế độ sở hữu khác để xây dựng CNXH .

Thứ hai là giải pháp cho vấn đề tổ chức quản lý . Nhà nước ta là nhà nước XHCN ,quản lý nền kinh tế bằng pháp luật ,chiến lược quy hoạch,kế hoạch ,chính sách ,sử dụng cơ chế thị trường áp dụng các hình thức kinh tế và quản lý kinh tế của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất,giải phóng sức sản xuất phát huy mặt tích cực ,hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động .
Thứ ba là giải pháp cho vấn đề phân phối .Định hướng XHCN trong quan hệ phân phối đòi hỏi chúng ta phải trước hết bảo vệ quyền lợi chân chính của người lao động . Vấn đề ưu tiên hàng đầu để bảo vệ quyền lợi người lao động là vấn đề khắc phục nạn thất nghiệp,tạo công ăn việc làm,có việc làm sẽ có thu nhập. Các thành phần kinh tế phải đóng góp vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động ,đặc biệt là thành phần kinh tế tư bản tư nhân với những doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thu hút nhiều lao động.Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN nên việc áp dụng phân phối theo lao động là chủ yếu là hoàn toàn đúng đắn .

3. Giải pháp cho việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ ,rộng mở đa phương hoá ,đa dạng hoá các quan hệ quốc tế . Việt Nam sẵn sàng là bạn ,là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế ,phấn đấu vì hoà bình ,độc lập và phát triển .
Nhiệm vụ của đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội ,công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước ,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia ,đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình ,độc lập dân tộc ,dân chủ và tiến bộ xã hội .
Mở rộng quan hệ nhiều mặt ,song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ ,các trung tâm chính trị ,kinh tế quốc tế lớn các tổ chức quốc tế và khu vực theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập ,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau ,không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực;bình đẳng và cùng có lợi ;giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình;làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép ,áp đặt và cường quyền .

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực ,nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế ,bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN ,bảo vệ lợi ích dân tộc ,bảo vệ môi trường.

Chúng ta xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là chúng ta phải xây dựng được một nền kinh tế trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển theo định hướng XHCN,sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế phải dẫn đến CNXH mà không đi chệch hướng,phải là một nền kinh tế mà các nhân tố XHCN ngày càng lớn lên ,đóng vai trò chi phối nền kinh tế quốc dân . Tiếp đó chúng ta phải thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước ,tạo ra một tiềm lực kinh tế ,khoa học và công nghệ đủ mạnh ,hình thành bước đầu một cơ sở vật chất ,kỹ thuật mới đủ sức đem lại cho đất nước một tư thế độc lập và bình đẳng trong hợp tác và đấu tranh khi hội nhập kinh tế quốc tế . Đồng thời phải xây dựng được một nền kinh tế mà cơ cấu phải chuyển dịch dần theo hướng tiến bộ ,hiện đại ,có sự cân đối hợp lý giữa công nghiệp ,nông nghiệp ,dịch vụ ,kết cấu hạ tầng kinh tế .Sau cùng đó phải là một nền kinh tế giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô ,bảo đảm cho nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng phó được với tất cả các tình huống phức tạp .

Để bảo hiểm cho nền kinh tế của đất nước ,chúng ta phải xây dựng được một cơ cấu và cơ chế kinh tế thích hợp ,làm cho kinh tế nước ta trong khi hội nhập kinh tế quốc tế vẫn không bị hoà tan ,không phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường thế giới ,vẫn tự tạo cho mình được một thế đứng vững về kinh tế tài chính ,giữ được một khoảng cách đủ để chúng ta có thể xoay sở mỗi khi thị trường thế giới diễn biến không lành mạnh và tác động tiêu cực đến nền kinh tế của nước ta .

4.Giải pháp cho một số lĩnh vực khác .

Thứ nhất là về vấn đề xã hội ,cần phải thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội ,thực hiện công bằng trong phân phối ,tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất ,tăng năng suất lao động xã hội ,thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội ,khuyến khích nhân dân làm giàu một cách hợp pháp . Trong đó chính sách giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản .

Thứ hai là về vấn đề giáo dục phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ,đổi mới nội dung ,phương pháp dạy và học ,hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục .

Thứ ba là vấn đề khoa học- công nghệ :trình độ khoa học -công nghệ của chúng ta còn thấp vì vậy phải đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho nó ,phải đẩy mạnh hợp tác quốc trong nghiên cứu khoa học và công nghệ ,phải coi trọng nghiên cứu cơ bản trong khoa học .

Thứ tư là phải củng cố và xây dựng nền văn hoá tiên tiến ,đậm đà bản sắc dân tộc ,tiếp tục giữ gìn và phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ,để giữ được nếp sống lành mạnh ,văn minh trong mỗi gia đình Việt Nam .

Thứ năm là tăng cường quốc phòng và an ninh ,bảo vệ độc lập ,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc .
Và cuối cùng ,quan trọng là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ Đảng trong sạch ,vững mạnh ,là đội ngũ nòng cốt đưa nước ta vững bước đi lên CNXH.