Những hạn chế cần khắc phục trong kế toán quản trị chi phí tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Tổ chức Bộ máy KTQT: thực tế bộ máy kế toán hiện nay tại các công ty xi măng vẫn chỉ mới thể hiện ở phương diện KTTC nhằm phục vụ cho việc cung cấp thông tin cho ban lãnh đạo công ty và các cơ quan chức năng. Hình ảnh KTQT trong tổ chức công tác kế toán vẫn còn mờ nhạt, tổ chức KTQT chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là các công ty nhỏ. Chưa thực sự phân cấp để gắn với các TTCP để tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị, bộ phận. Xây dựng và hình thành Bộ máy kế toán trong mối quan hệ giữa KTTC và KTQT là rất cần thiết nhưng các công xi măng Hải Dương chưa triển khai tốt vấn đề này.

Nhận diện và xác định các trung tâm chi phí: Đây là một nội dung còn khá mới đối với các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Mặc dù một số công ty đã có sự phân cấp quản lý và quy định trách nhiệm đối với người phụ trách bộ phận, tuy nhiên việc áp dụng kế toán trách nhiệm đối với các bộ phận này chưa có. Chưa xác định cụ thể các TTCP cũng như quy chế phân cấp rõ ràng về trách nhiệm kiểm soát chi phí đối với người đứng đầu.

          Nhận diện và phân loại chi phí: chi phí phát sinh ở các công ty hiện nay mới chỉ phục vụ cho việc theo dõi để tính GTSP (chi phí NVL TT, chi phí NCTT, chi phí SXC) những chi phí này phát sinh ở phân xưởng sản xuất theo KTTC mà chưa phải là nhận diện, phân loại theo KTQTCP. Cụ thể các công ty xi măng nhận diện các loại chi phí nhằm tính GTSP, ghi chép và xử lý theo KTTC, chưa quan tâm nhiều đến mối quan hệ với mức độ hoạt động và chưa phân loại chi phí để gắn với vấn đề kiểm soát chi phí. Nhận diện và phân loại chi phí cần gắn với việc tập hợp chi phí của KTTC để có thể hoàn thành một cách toàn diện hơn trong các công ty.

Phương pháp xác định chi phí: Các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn Tỉnh Hải Dương đang thực hiện xác định chi phí theo phương pháp chi phí thực tế, kỳ tính giá thành theo tháng. Việc xác định chi phí theo phương pháp này sẽ dồn các công việc vào cuối tháng, tính kịp thời trong việc cung cấp thông tin chi phí và giá thành sản phẩm bị hạn chế. Vì vậy cần có phương pháp xác định chi phí ưu việt hơn. Đồng thời, theo lộ trình các công ty phải chuyển đổi công nghệ sản xuất, tiến tới cắt giảm chi phí không phù hợp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm thì phương pháp xác định chi phí theo hướng hiện đại cũng cần phải tính đến.

Hệ thống định mức và lập dự toán: mặc dù hệ thống định mức được xây dựng tại các công ty nhưng thực tế vẫn chưa có cơ sở khoa học (không rõ ý) mà đồng đều giữa các công ty. Do điều kiện cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, chất lượng sản phẩm ở mỗi công ty là khác nhau nên định mức và dự toán phải có sự khác nhau, nhưng việc đồng đều giữa các công ty dẫn đến khó quản lý cho các cơ quan chức năng cũng như kiểm soát của chủ doanh nghiệp. Xây dựng hệ thống định mức cần gắn với đặc điểm kỹ thuật cũng như khảo sát thực tế và phải phân định theo định phí, biến phí cũng như có tính linh hoạt. Hệ thống định mức nếu được xây dựng đầy đủ sẽ làm căn cứ xây dựng dự toán để các công ty có thể hoạch định chiến lược.

Hệ thống báo cáo KTQTCP và phương pháp phân tích: tại các công ty xi măng Hải Dương đã có các Báo cáo KTQTCP tuy nhiên vẫn còn mang tính tự phát, chưa được xây dựng và lập một cách có hệ thống, đồng bộ, ảnh hưởng đến thông tin KTQTCP cung cấp. Mặc dù các công ty đã có sự phân tích biến động chi phí thông qua việc so sánh chi phí thực tế với chi phí kế hoạch và đưa ra một số nguyên nhân chênh lệch song chưa thực sự đi sâu vào phân tích nguyên nhân một cách sâu sắc và chưa xác định rõ các nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng cũng như các nhà quản lý chưa sử dụng các thông tin KTQT này phục vụ cho quá trình ra quyết định.

Phân tích kết quả khảo sát: cần thiết phải bổ sung Báo cáo KTQTCP phục vụ cho việc thu nhận thông tin phù hợp với từng cấp quản lý, nhằm đáp ứng yêu cầu điều hành của công ty. Bên cạnh đó, tính pháp quy của KTQT mới mang tính hướng dẫn và các nhà quản trị doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức rõ nét vai trò của KTQT trong việc phục vụ công tác quản lý, điều hành thông qua Bảng tổng hợp kết quả khảo sát ở các phụ lục 2.1d và 2.1e. Vì thế các công ty vẫn chưa có sự đầu tư về cơ sở vật chất cũng như con người để thực hiện nhiệm vụ KTQT, bên cạnh đó, những người làm công tác kế toán cũng mới thực hiện theo các quy định của KTTC mà chưa quan tâm nhiều đến vai trò của KTQT.