Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân đối với phát triển nông nghiệp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011 – 2016

* Những hạn chế, yếu kém

– Hạn chế lớn nhất của sản xuất nông nghiệp tỉnh vẫn là nền sản xuất nhỏ, lẻ, phân tán, manh mún. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn ở trình độ thủ công là chủ yếu. Năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng không đồng đều, khó khăn cho việc tổ chức thu mua, chế biến và xuất khẩu, sức cạnh tranh trên thị trường yếu.

Hải Dương là tỉnh sản xuất lúa nước 2 vụ/năm, tính thời vụ của cây trồng là hạn chế lớn cho việc tổ chức vùng nguyên liệu cung cấp thường xuyên cho công nghiệp chế biến. Vì vậy, công nghiệp chế biến nông sản – thực phẩm chậm phát triển, việc đầu tư công nghiệp chế biến còn hạn chế, mới giới hạn ở một số lĩnh vực nhất định như chế biến sản xuất gia vị, bánh kẹo, thịt cấp đông, rau quả (hộp, muối), sản lượng được chế biến chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số nông sản hàng hóa sản xuất ra.
– Kinh tế tập thể chậm phát huy hiệu quả, các HTX dịch vụ nông nghiệp còn mang tính hình thức, hầu hết còn lúng túng trong việc lựa chọn phương án kinh doanh và cơ chế hạch toán phù hợp với yêu cầu của kinh tế hàng hóa. Các dịch vụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa chưa được tổ chức, sắp xếp, định hướng phù hợp: dịch vụ vật tư nông nghiệp, hệ thống chợ nông thôn, việc thông tin tiếp thị, xây dựng thương hiệu hàng hóa,… cần được quan tâm và có giải pháp hữu hiệu hơn trong giai đoạn tới. Hơn thế công nghiệp nông thôn và làng nghề phát triển chậm, trình độ sản xuất thủ công lạc hậu, tính cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, hàng hóa khó tiêu thụ.

– Mặt trái của nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện dại hóa, đô thị hóa đang tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn tăng lên. Vấn đề ô nhiễm môi trường không chỉ từ các khu công nghiệp; khu đô thị hóa ảnh hưởng tới mà ngay việc chăn nuôi, chế biến giết mổ trong khu dân cư cũng gây ô nhiễm nặng, do công tác quy hoạch nông nghiệp nói riêng và quy hoạch phát triển nông thôn nói chung còn thiếu và chưa đồng bộ.

* Một số nguyên nhân dẫn đến hạn chế, yếu kém

+ Nội lực kinh tế còn yếu, cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh nên chưa thể tạo động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng ở tốc độ cao được. Công tác quy hoạch nông nghiệp nói riêng và quy hoạch phát triển nông thôn nói chung còn thiếu và chưa tác động tích cực tới chỉ đạo sản xuất.

+ Cơ giới hóa và công nghệ sinh học còn chiếm tỷ lệ thấp, việc ứng dụng vào chế biến và sản xuất nông sản còn hạn chế. Tỷ lệ cơ giới hóa một số khâu còn thấp so với bình quân chung của Đồng bằng sông Hồng, nhất là ở các khâu thu hoạch, phòng trừ sâu bệnh và chế biến sau thu hoạch. Hơn thế mô hình sản xuất rau, hoa bằng nhà lưới, nhà màng ứng dụng công nghệ tiên tiến (tưới, bón phân, phòng trừ sâu bệnh ,… chủ động theo phương pháp khoa học) còn ít. Tỷ lệ nông sản được chế biến công nghiệp còn thấp trong khi cơ chế quản lý khoa học, công nghệ cũng chưa động viên được các nhà khoa học và các doanh nghiệp tích cực tham gia đầu tư, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

+ Chất lượng nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp còn rất thấp do: (1) Đại đa số nông dân rất hạn chế về tiếp thu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều năm qua tỉnh đã chú vào tập huấn, bồi dưỡng kỹ thuật cho nông dân mỗi khi đưa cây con mới vào sản xuất. Tuy nhiên thường mới dừng ở mức tập huấn kỹ thuật sản xuất đơn lẻ cây, con ít quan tâm bồi dưỡng kiến thức tổng hợp có hệ thống về hiệu quả luân canh, hiệu quả khi ứng dụng các công nghệ tiên tiến về thị trường; (2) Lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật trực tiếp tham gia chỉ đạo sản xuất, hướng dẫn nông dân còn mỏng điển hình như đối tượng cán bộ chỉ đạo nông nghiệp: Cán bộ lãnh đạo chủ chốt các xã có trình độ trung cấp, đại học nông nghiệp bằng 32%. Số cán bộ chủ chốt (Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch) các huyện có trình độ đại học nông nghiệp là 12%.

+ Hệ thống khuyến nông không chỉ cung cấp thông tin hữu ích và tư vấn cho nông dân về ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, tư vấn về việc trồng trọt, chăn nuôi giống mới, chất lượng cao mà còn về nhiều vấn đề khác như về thị trường tiêu thụ, bố trí nuôi trồng cho phù hợp với đất đai khí hậu và đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường.

+ Cùng với các yếu tố khác, việc cung cấp và khả năng tiếp cận nguồn vốn cho sản xuất nông nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của các chương trình phát triển nông nghiệp. Ở cấp độ sản xuất, vốn đầu tư cho nông nghiệp có thể giúp nông dân đầu tư vào các hệ thống thuỷ lợi hoặc các công nghệ mới nhằm đa dạng hóa sản xuất và thu nhập, mua sắm vật liệu đầu vào trang trải cho các chi phí tiếp thị, lấp khoảng trống thu nhập trước mùa thu hoạch để không phải chịu sức ép bán sản phẩm ngay sau khi thu hoạch với giá thấp. Ở nhiều vùng ở Hải Dương bà con nông dân vẫn phải bán lúa non để mua giống, lân đạm phục vụ việc trồng trọt điều này đã làm giảm giá trị sản xuất mà họ tạo ra. Huy động vốn từ hệ thống các ngân hàng và quỹ tín dụng đối với bà con nông dân và các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn và chủ yếu là vay từ hệ thống ngân hàng đầu tư phát triển nông nghiệp và nông thôn nhưng hầu hết là cho vay theo dự án và các điều kiện thế chấp cũng hết sức khắt khe