Những kết quả đã đạt được trong kế toán quản trị chi phí tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Mỗi công ty xi măng đều có những đặc điểm riêng biệt phụ thuộc vào quy mô, hình thức sở hữu vốn cũng như mục tiêu phát triển của từng công ty. Đánh giá chung có thể đưa ra những kết quả đã đạt được cơ bản của 04 công ty đại diện cho nhóm các công ty xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương như sau:

Cơ cấu tổ chức (cơ cấu bộ máy quản lý, cơ cấu bộ phận kế toán, quy trình tổ chức quản lý, quy trình tổ chức sản xuất): các công ty đã khá là đầy đủ và đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu đặt ra. Tận dụng và khai thác tối đa được các nguồn lực hiện có, các phân xưởng sản xuất cũng được phân công công việc và trách nhiệm cụ thể nhằm phục vụ tốt công tác quản lý.

          Áp dụng các chính sách, chế độ kế toán: Về cơ bản các công ty đều áp dụng đúng, đủ các chính sách, chế độ kế toán, tài chính được quy định hiện hành. Vận dụng một cách linh hoạt từ khâu thu nhập thông tin thông qua hệ thống chứng từ kế toán đến xử lý thông tin qua phương pháp tính giá, hệ thống tài khoản, sổ kế toán đến lập các Báo cáo nhằm cung cấp thông tin cho người quản lý cũng như các đối tượng quan tâm. Cụ thể các công ty đã áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp theo quyết định số 15/2006/QĐ – BTC của Bộ Tài chính và Thông tư số 244/2009/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định 15. Từ 01/01/2015 các công ty đã áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính và Thông tư 53/2016/TT-BTC ngày 21/03/2016 sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo thông tư 200.

Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí: hệ thống định mức chi phí được xây dựng ở các công ty nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí. Cách xây dựng đã có cơ sở và sát với thực tế, phù hợp với điều kiện SXKD của từng công ty để hướng đến mục tiêu xây dựng dự toán chi phí nói riêng và xây dựng hệ thống dự toán nói chung.

          Đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm: tập hợp chi phí, tính GTSP được thực hiện theo các TK 621, TK622, TK627 và tài khoản 154 chi tiết theo từng đối tượng, từng công đoạn. Những chi phí chung không tập hợp trực tiếp được thì đã thực hiện phân bổ theo từng đối tượng chịu chi phí nhằm phục vụ công tác đánh giá SPDD và tính GTSP. Các công ty thực hiện tính GTSP theo từng phương pháp phù hợp đưa ra được số liệu cụ thể phục vụ theo dõi kiểm soát cũng như làm cơ sở xác định giá bán sản phẩm.

          Mô hình tổ chức KTQT: có thể khẳng định mô hình tổ chức công tác KTQTCP cũng như áp dụng các nội dung là chưa rõ nét mà đang lẫn lộn với KTTC nhưng bước đầu đã thấy được vai trò của KTQT đó là vận dụng các phương pháp tính giá thành linh hoạt, các báo cáo về vật tư, báo cáo phân tích sự chênh lệch giữa định mức so với thực tế…nguồn số liệu ban đầu cơ bản do KTTC tập hợp và cung cấp nhưng vẫn đã được sử dụng cho mục đích của KTQT.