Những kết quả đạt được về cơ cấu nguồn vốn của các công ty cổ phần ngành điện niêm yết

Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn tác động làm cho rủi ro tài chính của các DN ở mức thấp

Qua phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến rủi ro tài chính được thể hiện trên các giác độ sự cân bằng về mặt tài chính; sự độc lập về mặt tài chính và khả năng thanh toán cho thấy cơ cấu nguồn vốn hiện hành đang tác động làm cho rủi ro tài chính của các DN ở mức thấp.

Phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến sự cân bằng về mặt tài chính nhận thấy sự cân bằng về mặt tài chính của các DN được cải thiện đáng kể trong giai đoạn nghiên cứu. Phân tích cơ cấu tài sản cho thấy bình quân giai đoạn nghiên cứu mức cơ cấu tài sản là: tỷ trọng TSNH là 35,85%; tỷ trọng TSDH là 64,22%; phân tích cơ cấu nguồn vốn theo thời gian huy động và sử dụng vốn cho thấy: tỷ trọng NVTT là 6,31%; tỷ trọng NVTX là 93,69%. Như vậy NVTX của các DN không chỉ đáp ứng tài trợ hoàn toàn cho TSDH mà còn được sử dụng để tài trợ cho TSNH làm gia tăng quy mô và tỷ trọng nguồn vốn lưu động thường xuyên tạo ra mức độ đảm bảo đối với các DN về khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn.

Phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến sự độc lập về mặt tài chính cho thấy hiện nay sự độc lập về mặt tài chính của các DN đang có sự gia tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Hệ số vốn chủ sở hữu và tỷ trọng nguồn vốn bên trong gia tăng liên tục trong giai đoạn nghiên cứu: hệ số vốn chủ sở hữu tăng từ mức 42,22% lên 69,20%; tỷ trọng nguồn vốn bên trong tăng từ mức 7,67% lên 24,11%. Như vậy sự độc lập về mặt tài chính được cải thiện rõ rệt sẽ giúp các DN tự chủ trong các quyết định sản xuất kinh doanh, chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư mà không phải chịu sự chi phối từ phía các chủ nợ.

Phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến khả năng thanh toán qua hệ số khả năng thanh toán hiện thời cho thấy: cơ cấu nguồn vốn tác động làm cho khả năng thanh toán hiện thời của các DN đang ở mức cao với mức bình quân giai đoạn nghiên cứu là 2,13 lần. Như vậy cơ cấu nguồn vốn hiện hành đã làm cho khả năng đáp ứng nghĩa vụ nợ ngắn hạn của các DN được đảm bảo, nguy cơ kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản ở mức thấp. Không những vậy, với mức khả năng thanh toán cao sẽ là tiền đề cơ sở cho các DN khi đi huy động đối với các khoản vay mới trên thị trường tài chính.

Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn tác động làm cho tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của các DN gia tăng mạnh trong giai đoạn 2012-2014

Qua phân tích tác động của cơ cấu nguồn vốn đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) cho thấy cơ cấu nguồn vốn đã tác động làm cho ROE gia tăng mạnh trong giai đoạn 2012-2014. Cụ thể, ROE gia tăng từ mức 10,54% năm 2012 lên đến 21,44% năm 2014. Điều này xuất phát từ nguyên nhân hiện nay các DN ngành điện niêm yết hiện đang được tài trợ bởi những khoản vay dài hạn với mức lãi suất thấp từ 0,05% đến 4% trên năm. Với mức chi phí sử dụng nợ vay thấp và hiệu quả sử dụng tài sản thể hiện qua BEP có sự gia tăng liên tục trong giai đoạn 2012-2014 cho thấy đòn bẩy tài chính hiện đang được khuyếch đại theo chiều hướng dương. Và việc tác động làm gia tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu chủ yếu là do sự gia tăng của BEP mà xuất phát chủ yếu từ sự gia tăng của EBIT. Điều này được lý giải bởi trong giai đoạn 2012- 2014 các DN Thuỷ điện có sự gia tăng EBIT bởi được hưởng lợi từ các khoản vay có tính chất nước ngoài và sự biến động của tỷ giá có tác động tích cực đến lợi nhuận của các DN; điều kiện khí hậu thuận lợi với lưu lượng nước đổ vào các sông Thuỷ điện đã làm gia tăng sản lượng điện sản xuất và làm gia tăng lợi nhuận của các DN Thuỷ điện. Ngoài ra, trong giai đoạn này các công ty cổ phần ngành điện niêm yết còn được hưởng lợi do sư chênh lệch giữa giá bán điện thực tế và giá bán điện tạm tính cho EVN trong năm 2012.

Thứ ba, chi phí sử dụng nợ vay của các DN đang ở mức thấp

Chi phí sử dụng nợ vay sau của các DN ổn định ở mức thấp do các DN ngành điện niêm yết hiện được tiếp cận với nguồn vốn vay với mức chi phí sử dụng vốn thấp. Nguồn vốn tín dụng trong nước đang được hưởng ưu đãi từ Chính phủ do đặc thù ngành điện niêm yết mới tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam và là ngành có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia; nguồn vốn vay trực tiếp và vay lại từ EVN, các DN được hưởng chi phí sử dụng vốn thấp do có mối quan hệ tín dụng chặt chẽ với EVN từ trước khi thực hiện quá trình cổ phần hoá. Chi phí sử dụng nợ vay thấp sẽ tạo thuận lợi cho các DN trong việc khuyếch đại ROE nếu BEP ở mức cao và lớn hơn Rdt. Ngoài ra, với mức chi phí sử dụng nợ vay thấp sẽ góp phần làm cho WACC giảm xuống và tác động tích cực đến giá trị của DN. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, việc cổ phần hoá các DN ngành điện sẽ được thực hiện thuận lợi hơn nhiều với các khoản nợ vay chi phí thấp do làm giảm áp lực đối với các DN trong việc đưa ra quyết định tham gia ngành điện niêm yết.