Những lợi ích của Marketing quốc tế

Những lợi ích của Marketing quốc tế
Đánh giá bài viết

 

Trong một báo cáo kinh tế gửi lên quốc hội năm 1985, Tổng thống Mỹ Reagan đã đưa ra nhận xét: “Những lợi ích của tự do thương mại thật rõ ràng: nó tạo ra nhiều việc làm hơn, khiến cho việc sử dụng các nguồn lực quốc gia hiệu quả hơn, tạo ra sự đổi mới nhanh hơn, mức sống được nâng cao ở cả quốc gia này và các quốc gia tự do thương mại với nó.” Marketing quốc tế ảnh hưởng hàng ngày đến người tiêu dùng Mỹ theo nhiều cách, mặc dù tầm quan trọng của nó thì vẫn chưa được hiểu thấu đáo hoặc không được nhìn nh ận. Các quan chức chính phủ và những quan sát viên khác thường hay nói đến những khía cạnh tiêu cực của kinh doanh quốc tế. Mặc dù, rất nhiều trong số những khía cạnh đó là hoàn toàn tưởng tượng chứ không có thật. Những lợi ích của marketing quốc tế cần được bàn luận công khai nhằm loại bỏ những quan niệm sai lầm này.

Để Tồn tại

Vì phần lớn các quốc gia không được may mắn như nước Mỹ về quy mô thị trường, nguồn lực và các cơ hội, họ phải tiến hành thương mại với các nước khác để tồn tại. Hồng Kông là lãnh thổ hiểu rất rõ vấn đề này. Không có lương thực và nước từ Trung Quốc, thuộc địa này của Anh sẽ không thể tồn tại lâu dài. Một số quốc gia ở châu Âu cũng vậy bởi phần lớn các quốc gia châu Âu có quy mô tương đối nhỏ. Không có thị trường nước ngoài, các công ty châu Âu không thể có được tính kinh tế nhờ quy mô để có thể cạnh tranh với các công ty Mỹ. Trong một quảng cáo của mình, Nestlé đã đề cập tới quốc gia Thuỵ Sỹ của mình như một nơi thiếu nguồn lực tự nhiên và do đó công ty đã buộc phải dựa vào thương mại và đi theo xu hướng siêu quốc gia. Với Mỹ, quốc gia được những ưu đãi về nguồn lực, quy mô dân số và là nơi có mức tiêu dùng cao nhất, thì sự đi xuống của kinh tế trong nước cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng. Vì thế, Mỹ cũng cần thương mại như các nước khác để có thể tồn tại và phát triển. Vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán ở Mỹ năm 1987 với ảnh hưởng lan sang cả các thị trường khác trên toàn thế giới đã khiến nhiều nghị sỹ Mỹ phải xem xét lại các biện pháp bảo hộ và họ đã thấy rằng, nền kinh tế các quốc gia phụ thuộc rất chặt chẽ vào nhau. Một dự thảo bảo hộ được đưa ra nhằm làm ảnh hưởng tới nền kinh tế của nước khác sẽ rất dễ gây ra chính ảnh hưởng cho kinh tế Mỹ.

Sự phát triển của các thị trường ngoài nước

Những người làm công ty thị trường của Mỹ không thể bỏ qua những tiềm năng to lớn của thị trường quốc tế, nhất là có tới 95% dân số thế giới sống ngoài nước Mỹ và nắm giữ 75% tài sản của toàn thế giới. Thị trường nước ngoài vì thế không chỉ rất lớn mà còn có thể đang phát triển nhanh hơn thị trường Mỹ. Sự suy giảm tăng trưởng dân số Mỹ đã khiến cho những ngành nghề kinh doanh thức ăn trẻ em, đồ ăn nhanh và đồ uống bị ảnh hưởng. Lối sống thay đổi cũng giải thích vì sao sự tăng trưởng của các thị trường khác cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Chẳng hạn như việc chăm lo cho sức khoẻ đã khiến do doanh số thuốc lá và rượu bị giảm sút. Không có thị trường nước ngoài, các công ty kinh doanh rượu của Mỹ sẽ bị chính lượng rượu thừa cuốn trôi. Một ví dụ khác, Singer là một công ty đã từng bị những đe doạ về tình trạng sản xuất dư thừa khi phụ nữ Mỹ tham gia vào lực lượng lao động nhiều hơn. Những phụ nữ này sẽ tự may vá ít hơn và mua đồ may sẵn nhiều hơn.

Doanh lợi và lợi nhuận.

Thị trường nước ngoàI chiếm một thị phần rất lớn trong tổng hoạt động kinh doanh của rất nhiều công ty Mỹ, các công ty này có hàng loạt các thị trường với trình độ văn hóa cao ở nước ngoài. Các công ty như IBM, Hewlett Packard, Exxon, Mobil, Texaco, Pan Am, và Tupperware có tới hơn một nửa doanh thu thu được từ thị trường nước ngoàI . Về mặt lợi nhuận thì các công ty Canada Dry, Max Factor, Milton Bradlery, Coca-cola, và ITT có tới hơn một nửa lợi nhuận ròng của họ thu được từ các hoạt động kinh doanh ở nước ngoàI . Trong rất nhiều trường hợp, những hoạt động ở nước ngoàI có thể đóng gớp vào lợi nhuận của công ty những tỷ lệ không giống nhau khi so sánh nó với tổng doanh thu tạo ra. Một sự thua lỗ 5% trong doanh thu từ các hoạt động kinh doanh nước ngoàI có thể dẫn tới sự mất hơn 5% trong lợi nhuận. Hiện tượng này gây ra bởi chi phí cố định rõ ràng đã được tính tại nội địa thấp hơn chi phí lao động và nguyên liệu ở nước ngoàI , làm giảm cường độ cạnh tranh ở nước ngoàI và tiếp tục như thế. Trong trường hợp của Coca- Cola, những hoạt động kinh doanh ở nước ngoàI tạo ra 38% doanh thu và 53% lợi nhuận. Ân tượng hơn nữa là tập đoàn ITT mà các hoạt động ở nước ngoàI chỉ chiếm 37% tổng doanh thu nhưng lại tạo ra 67% lợi nhuận. Những công ty Mỹ với những khoản lợi nhuận khổng lồ thu được từ thị trường nước ngoàI là Exxon, Occidential, IBM, Phillip, Bchlumberger , Mobil, Texaco, Chevron, Allied, và Amoco.

Đa dạng hóa.

Nhu cầu đối với hầu hết các sản phẩm đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố mang tính chu kỳ như chu kỳ kinh tế và các nhân tố theo mùa như thời tiết. Và kết quả không mong muốn của sự biến đổi này là sự biến động về doanh thu, cáI mà tiếp đó có thể biển động đủ mạnh để gây ra việc xa thảI người lao động. Một cách để phân tán rủi ro là lựa chọn những thị trường ở nước ngoàI như một giảI pháp cho vấn đề nhu cầu đa dạng. Những thị trường này thậm chí những biến động bởi tạo ra các thị trường tiêu thụ cho sản phẩm cho doanh nghiệp có công xuất sẩn xuất dư thừa. Ví dụ , thời tiết lạnh có thể làm giảm sức tiêu thụ của nước ngọt. Nhưng không phảI tất cả các nước đều bước vào mùa đông đồng thời cùng một lúc và một vàI nước vẫn có thời tiết khá ấm áp quanh năm. Một tình huống tương tự cũng xảy ra đối với chu kỳ kinh doanh: Chu kỳ kinh doanh tại Châu Âu thường muộn hơn chu kỳ kinh doanh tại Mỹ. Việc bán hàng tại thị trường nội địa và tại thị trường nước ngoàI trong sự khác biệt về thời gian xảy ra chu kỳ kinh tế vẫn cólợi cho các công ty chẳng hạn như Culligan. Mặc dù, Culligan phảI đối đầu với mức suy giảm về doanh thu tại thị trường nội địa trong những năm 1970 và 1971, nhưng tổng doanh thu của công ty vẫn không mấy thay đổi bởi có sự tăng lên trong doanh thu ở nước ngoàI. Nói cách khác, doanh thu ở nước ngoàI sụt giảm lại được vực dậy bởi doanh thu trong nước đang tăng mạnh.

Lạm phát và giá cả của hiện đại hóa.

Lợi nhuận của việc xuất khẩu rõ ràng là đầy sức thuyết phục. Nhưng nhập khẩu cũng đem lại lợi nhuận cao cho thị trường Mỹ, bởi vì chúng góp phần dụ trữ năng lực sản xuất cho nền kinh tế Mỹ. Nếu không có nhập khẩu ( hoặc có một vàI hạn chế trong nhập khẩu ) thì sẽ không mang lại động lực cho các doanh nghiệp nội địa trong việc ổn định giá cả hàng hóa của họ.Việc thiếu cơ hội lựa chọn sản phẩm nhập khẩu buộc những người tiêu dùng phảI trả tiền nhiều hơn, gây ra lạm phát và đẩy nhanh lợi nhuận của các công ty trong nước lên quá cao. Sự biến động này thường đóng vai trò khởi đầu cho yêu cầu của công nhân về mức lương cao hơn; đẩy mạnh hơn nữa nạn lạm phát . Những hạn nghạch nhập khẩu được đưa ra đối với loại ôtô của Nhật đã giữ được 46200 việc làm trong ngành công nghiệp của Mỹ nhưng với một chi phí lên đến 160000$ cho một việc làm một năm. Chi phí quá lớn này đã gây ra việc tăng thêm (vào năm 1983) 400$ vào giá mỗi ôtô của Mỹ và 1000$ vào giá mỗi hàng nhập khẩu từ Nhật . Khoản lợi này thuộc về Detroit tạo nên một mức lợi nhuận cao kỷ lục đối với các nhà sản xuất ôtô của Mỹ. Những khoản lợi ngắn hạn này thu được từ những biện pháp quản lý của chính phủ trong vấn đề cung hàng nhập khẩu có thể trong dàI hạn sẽ quay lại đánh trả các công ty trong nước. Các biện pháp hạn chế thương mại không chỉ làm giảm cạnh tranh bằng giá cả ngắn hạn, mà chúng còn có ảnh hưởng mạnh trong nhu cầu tiêu dùng trong nhiều năm tới. Ơ Châu Âu khi giá của nước cam ép tăng lên, người tiêu dùng chuyển sang dùng nước tráI cây khác. Cũng như thế những người trồng cam Florida cảm thấy lo sợ khi thấy giá quá cao khiến người tiêu dùng chuyển sang tiêu dùng hàng hóa khác. Sau mùa đông lạnh giá năm 1962 ngành cam quýt của nước này phảI mất 10 năm mới giành lại được khách hàng của họ. Những người trồng cam của Mỹ cuối cùng cũng học được cách cùng tồn tại với hàng hóa nhập ngoại bởi họ hiểu ra rằng nước quả nhập từ Brazil, thông qua việc giảm tối đa mức tăng giá, lại có thể giữ được người tiêu dùng.

Việc làm.

Những biện pháp hạn chế thương mại như thuế nhập khẩu cao gây lên bởi hãng Smoot-Hawley Bill năm 1930, đã buộc mức thuế xuất nhập khẩu trung bình lên tới 60%, đã đánh vào Great Depression và có nguy cơ gây ra nạn thất nghiệp rộng rãI một lần nữa. Nói cách khác, thương mại không có các biện pháp hạn chế, nâng cao GDP của thế giới và tăng việc làm cho hầu hết các quốc gia. Thậm chí các sản phẩm nhập khẩu cũng có thể đem lại lợi ích cho một quốc gia. Trong trường hợp của Mỹ, việc nhập khẩu ôtô tạo ra tới hơn 20 tỷ USD trong doanh thu một năm, tạo ra 165000 việc làm và tạo cơ hội cho 7000 hãng kinh doanh độc lập.

Với những đề cập về việc xuất khẩu, những số liệu từ phòng thương mại chỉ ra rằng 250 công ty sản xuất của Mỹ thu được nửa tỷ đôla trong doanh thu ở nước ngoàI trong năm 1980. Sự phụ thuộc của các ngành công nghiệp của Mỹ vào hàng nhập khẩu để phát triển được chứng minh bằng các con số sau: 79% toàn bộ việc làm trong ngành công nghiệp vào năm 1977-1980 đều liên quan đến xuất khẩu và trong năm 1980 gần 47 triệu việc làm liên quan đến xuất khẩu sản phẩm công nghiệp.

Theo báo cáo của Census Bureau năm 1987 về “nguồn gỗc về xuất khẩu hàng công nghiệp” thì hơn 4 triệu việc làm của Mỹ liên quan đến xuất khẩu, riêng Califorlia đã có tới 501400 việc làm . Hơn một nửa trong số các việc làm trên nằm trong ngành công nghiệp, chiếm 11% trong số các ngành công nghiệp của Mỹ. Theo một báo cáo khác do phòng thương mại đưa ra vào đầu năm nay về “đóng góp của xuất khẩu vào việc giảI quyết vấn đề việc làm của Mỹ” đã chỉ ra rằng xuất khẩu tạo ra 5,5 triệu việc làm vào năm 1989 trong đó cứ 1 tỷ xuất khẩu tạo ra 25800 việc làm và khoảng 17% nghề trong ngành công nghiệp. Trong suốt thời kỳ 1980-1984 số việc làm tạo ra từ xuất khẩu giảm 25% do sự giảm trong khối lượng xuất khẩu (900000 việc làm); sự tăng năng suất (700000 việc làm)và việc sử dụng nhiều hơn các linh kiện nhập khẩu (200000 việc làm)

Lợi ích về việc làm đã đước khẳng định trong các khóa họp phân tích các số liệu này của các cơ quan chính phủ của Mỹ với mô hình hàng hóa ra- vào của nền kinh tế Mỹ. Xuất khẩu 10 tỷ đôla tạo ra khoảng 193000 việc làm mới và 82600 việc cho người lao động. Nhập khẩu một lượng tương tự lại làm mất đi179000 việc làm với 100600 việc của những người đang làm việc. Hơn một nửa số việc làm mới do kết quả của việc tăng xuất khẩu là các công việc của nhân viên cổ trắng với doanh thu và vị trí marketing thu được ở mức cao nhất.

Mức sống.

Thương mại cho phép các nước và người dân của họ được hưởng mức sống cao hơn mà tự họ có thể có. Nừu không có thương mại thì sự khan hiếm hàng hóa buộc họ phảI trả nhiều hơn cho một lượng hàng hóa ít hơn. Việc tìm kiếm các hàng hóa như chuối có thể không thể có được. Cuộc sống tại Mỹ sẽ trở lên rất khó khăn nếu không có nhiều loại kim loại mang tính chiến lược đối với nền kinh tế, những loại này phảI nhập vào. Thương mại cũng khiến cho các ngành dễ dàng tiến hành việc chuyên môn hóa và thu được lợi trong việc sử dụng nghuyên liệu thô, trong khi cùng lúc đó lại tăng được hiệu quả sản xuất. Một sự lan truyền quá trình đổi mới qua biến giới quốc gia là rất hữu ích thông qua sản phẩm của thương mại quốc tế. Thiếu thương mại quốc tế sẽ cản trở luồng sóng đổi mới truyền đI trên thế giới.

Hiểu biết về quy trình Marketing.

Marketing quốc tế không nên được hiểu là một trường hợp phụ hay đặc biệt của Marketing nội địa. Thực tế thì điều ngược lại mới đúng. Theo như điều giảI thích của Cox thì “ điều này nghe có vẻ nghịch lý nhưng nó đúng là thế. CáI mà mỗi chúng ta dựa vào chủ yếu là từ những so sánh của hệ thống Marketing nội địa chứ không phảI cáI mà họ nói với chúng ta về những thứ khác, mà là họ buộc chúng ta tìm hiểu về chính chúng ta để hiểu cáI chúng ta sẽ quan sát thấy ở nước ngoài.” Thorelli và Becker có cùng ý kiến “Bằng việc tìm hiểu Marketing trong những nền văn hóa khác nhau nhà nghiên cứu (hoặc sinh viên) thu được những sự hiểu biết sâu sắc hơn về Marketing theo cách của riêng họ”. Việc học Marketing quốc tế do đó thực sự có giá trị trong việc đưa ra những hiểu biết thấu suốt về mô hình hành vi thường nhận thấy ở trong nước.

Phần lớn các nhà xuất khẩu thờ ơ của thế giới.

Mỹ vừa là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới ( cho tới khi bị thay chỗ một cách tạm thời cho Tây Đức vào năm 1980) và đồng thời cũng là nước thiếu chú ý tới việc xuất khẩu nhất trên thế giới. Trong nhiều năm, Mỹ thống trị thương mại thế giới nhờ lợi dụng hoàn cảnh nghèo túng của những nước khác do chiến tranh thế giới thứ hai. Những nước này đã rất nỗ lực trong việc khôI phục lại một vị trí có sức cạnh tranh manh hơn. Tuy nhiên, Mỹ dường như cũng cố gắng nhiều nhưng chỉ là để khai thác sức cạnh tranh của nó. Sự tăng lên tuyệt đối về khối lượng thương mại và tổng thu nhập quốc nội đã khiến các công ty Mỹ hiểu lầm và coi thương mại là hiển nhiên và do đó đã thất bại phảI chứng kiến sự đI xuống của vị trí thương mại của mình (xem bảng 1-1). Còn các nước Nhật Bản và Tây Âu lại thu được khoản lợi khổng lồ trong khi Mỹ trượt dàI trong tỷ trọng hàng xuất khẩu so với lượng xuất khẩu của toàn thế giới. Để giảI quyết vấn đề này, Mỹ đã vay nợ rất nhiều để trang trảI cho sự thâm hụt của mình, trở thành một con nợ thực sự vào năm 1985 lần đầu tiên trong 71 năm. Thêm vào đó có sự thay đổi trong chủ nợ và con nợ, Mỹ cũng chuyển từ một xã hội sản xuất sang một xã hội tiêu dùng. Bảng 1-9 đã cung cấp một thực trạng khá chính xác về thương mại của Mỹ.

Nguyên nhân và kết quả.

Không phảI tất cả các công ty Mỹ đều phảI có trách nhiệm về sự suy giảm sức cạnh tranh của Mỹ trong thương mại quốc tế. Bẩy công ty của Mỹ đã hoạt động khá thành công tại nước ngoàI và còn tiếp tục thành công nữa. Thậm chí tại cả thị trường rất khó tính là thị trường Nhật Bản, các tập đoàn Mc Donald’s; Coca-Cola và Kentncky Fried Chicken, cùng với các công ty của Mỹ khác đã thu được những thành công đáng kể. Vấn đề là ở chỗ một lượng lớn các công ty Mỹ không thể biến sức mạnh ở trong nước của mình thành sức mạnh tại thị trường nước ngoài.

Không có gì đáng phảI ngạc nhiên là không một ai muốn thừa nhận rằng đIũu đó là do các hoạt động nghèo nàn của các công ty Mỹ. Các nhà quản lý thì đổ lỗi cho người lao động và chính phủ; người lao động thì đổ lỗi cho chính phủ và nhà quản lý, và cứ thế . Thực tế thì những đIũu ấy là chưa đủ cho mọi người gồm cả nhà quản lý, nhà khoa học, người lao động và chính phủ.

Nhà quản lý: Theo một nghiên cứu do phòng thương mại của Mỹ tiến hành, 92% các công ty Mỹ chỉ hoạt động trong thị trường nội địa , gần 250000 nhà sản xuất Mỹ nhưng chỉ có 10% trong số họ là xuất khẩu với chưa đến 1% tron số các công ty này đã xuất 80% sản phẩm xuất khẩu của Mỹ. Những sự phát hiện này dường như khẳng định thêm quan đIểm rằng việc kinh doanh ở Mỹ không có định hướng quỗc tế.

Tại sao rất nhiều hãng đã thất bại trong việc mở rộng thị trường thông qua xuất khẩu và cáI gì đã cản trở họ? Những lời bào chữa là:(1) thị trường nước ngoàI quá nhỏ, (2) thị trường nước ngoàI qua xa,(3) lợi nhuận xuất khẩu qua nhỏ, (4) việc xuất khẩu quá khó khăn, (5) những hàng hóa này đều bán được rất tốt tại thị trường nội địa. Những lời bào chữa này không còn giá trị khi một ai đó cân nhắc về trường hợp của Nhật Bản và Tây Đức đã đạt hiệu quả rất cao trong thương mại quốc tế.

Cử nhân đại học: Có một nhu cầu thực sự đối với việc dạy sinh viên để nhận thức rõ ràng hơn về thế giới chứ không chỉ biết có một mình nước Mỹ. Một phần của vấn đề là phần lớn các giáo sư về kinh doanh đều không có một bằng cấp nào liên quan đến kinh doanh quốc tế. Như chúng ta mong đợi , họ không có ham thích trong môn học mà họ chọn để dạy. Thêm vào đó, nhiều trường học về kinh doanh nổi tiếng không đưa ra một khoá học quốc tế nào với cơ bản là những kỷ luật và những nguyên tắc cơ bản của marketing, quản lý và các môn học khác đều mang tính toàn cầu.

Hơn nữa, bằng chứng về sự thờ ơ của thế giới về đào tạo đại học là chỉ có ít sách giáo khoa và báo chí có liên quan đến những vấn đề cơ bản trong thương mại quốc tế. Hơn nữa, về bản chất, phần lớn việc giành được học bổng mang tính tượng trưng nhiều hơn là mang tính lý thuyết hay tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Những học bổng giành được mang tính tượng trưng này, trong khi rất hữu ích, thì chỉ là chuyện vặt dựa chủ yếu vào lời nhận xét ngẫu nhiên và mang tính cá nhân hơn là dựa vào những cuộc đIũu tra chính xác. Cũng tương tự các môn học mang tính tượng trưng cũng trở lên thực sự quá nhanh chóng. CáI m thực sự đang thiếu là các lý thuyết có thể cung cấp một nền tảng phân tích cơ bản để có thể hiểu được và dự đoán được những rắc rối có liên quan. Các trường cao đẳng kinh doanh của hệ thống các trường cao đẳng của Mỹ (AACSB) đã đang khuyến khích các trường về kinh doanh đưa kinh doanh quốc tế vào chương trình giảng dạy. Các trường đại học có thể áp dụng hoặc không áp dụng những lời gợi ý này .

Lao động: Lao động có tổ chức đã tạo nên một sự đóng góp đầy ý nghĩa trong việc bảo vệ lợi ích của người lao động. Nhưng trong nhiều trường hợp các nguyên tắc lao động và việc phân chia công việc lại được củng cố nhờ việc người lao động có khuynh hướng hạn chế năng suất lao động. Việc quản lý đã đựơc đưa vào đối với các tổ chức nghiệp đoàn dựa vào giả thiết là nền kinh tế Mỹ đủ mạnh để trang trảI các khoản chi phí cho những nguyên tắclao động thực sự không hiệu quả. Một giả thiết khác là các công ty khác trong đó có các công ty cùng ngành sẽ chấp nhận những nguyên tắc tốn kém này. Nhưng hiện nay, người tiêu dùng đang có những sản phẩm tiêu dùng của nước ngoàI rẻ hơn để lựa chọn. Bảng 1-10 là một ví dụ đIún hình về quan đIểm của người lao động có tổ chức cáI mà vừa đáng khen lại vừa đáng chê. Theo như những bằng chứng hiện có thì trong bất kỳ trường hợp nào nhập khẩu và đầu tư đều là đIũu tồi tệ không cần thiết cho vấn đề việc làm của Mỹ .

Công chúng: Công chúng Mỹ đã góp phần một cách mù quáng vào thâm hụt thương mại của Mỹ. Theo như điều tra của tạp chí Wall Street Journal vào năm 1985 và “NBC news” đã đưa ra được một vàI bằng chứng. Trong số những người Mỹ được hỏi có 51% đều ủng hộ các biện pháp hạn chế nhập khẩu với mục đích là bảo vệ các ngành sản xuất trong nước . Lối suy nghĩ này được ủng hộ bởi rất nhiều các tổ chức gồm các quan chức chính phủ và các chính trị gia. Họ đã sai lầm trong việc đánh giá chi phí khổng lồ gắn liền với các biện pháp hạn chế thương mại. Một cách đầy nực cười là bởi lẽ những trả giá cho mô hình này, những người chịu ảnh hưởng xấu là những người có thu nhập trung bình hoặc thấp. Những hạn chế thương mại về quần áo , đường , ôtô do đánh một mức thuế thu nhập 23% là quá nặng đối với một gia đình gồm toàn những người có thu nhập dưới 10000 USD nhưng lại chỉ đánh mức thuế 10% đối với một gia đình có thu nhập 23000 USD.

Chính phủ: Chính phủ Mỹ đã đưa ra hàng loạt các nguyên tắc không khuyến khích xuất khẩu . Trong việc bảo vệ các hành động của chính phủ , thương mại không thể bị coi là tách biệt bởi vì đất nước này còn có những tham vọng khác mang tính quốc gia ngoàI vấn đề là một nền kinh tế hùng mạnh mà còn các vấn đề khác như : vấn đề về an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại, và nhiều thứ khác nữa. Những tham vọng đa dạng này đã tăng tính tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Vấn đề này ngày càng tăng khi chính phủ độc quyền thương mại và những hỗ trợ về mặt kinh tế và quân sự để đạt được những mục tiêu này. Khi thân thiên, những quốc gia không phảI là cộng sản như Isael, và Pakistan bị coi là xâm phạm vào quyền con người hoặc bị nghi ngờ là có kế hoạch về việc sản xuất vũ khí hạt nhân thì được chính phủ Mỹ làm ngơ đI.

Nhưng khi ấn Độ bị buộc tội là đã thành công trong kỹ thuật sản xuất vũ khí hạt nhân và các nước Nicaragua và Balan bị buộc tội là đã xâm phạm quyền con người thì chính phủ Mỹ lại cắt hết hoặc áp đặt các biện pháp quản lý hàng xuất khẩu của những nước này nhập vào Mỹ- không quá nhiều bởi vì

Một số bước cạnh tranh.

Sự nhận thức về những vấn đề xuất khẩu là một bước khởi đầu tốt, nhưng sự nhận thức đó phải được kế tiếp bằng các bước chính xác.Một giải pháp tốt là sử dụng các đối thủ cạnh tranh của Mỹ như một nền tảng để phân tích và so sánh để chắc chắn rằng những bước đi này sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh

Việc Nhật và Đức có thể bắt đầu từ sự thiếu vắng nền tảng công nghiệp sau chiến tranh thế giới lần II đạt đến một vị trí nổi bật về thương mại đem lại một bài học tốt.Các nước này có những điểm chung nào mà cho phép họ đạt được sự thành công vượt bậc như vậy? điểm chung này là ở mỗi nước nhiều thành phần trong xã hội đâ sẵn sàng làm việc cùng nhau vì lợi ích của quốc gia.Người tiêu dùng Nhật, Đức đều sẵn sàng giữ gìn cả tài nguyên và tiền mặt trong khi chấp nhận giá cả cao đối với nhu câù tất yếu.Phong cách quản lí gia trưởng ở Nhật và hệ thống cùng gia quyết định ở Mỹ đã khích lệ sự trung thành của công nhân.Trong cùng một thời điểm, mỗi chính phủ đều tích cực khuyến khích xuất khẩu đồng thời phối hợp với hoạt động của hàng loạt các lĩnh vực khác.Kết qủa là có một sự hy sinh và hợp tác lớn lao.Điều này không có nghĩa là cả hai nước đều sử dụng phương pháp tương tự như nhau.Ví dụ, Nhật bản tích cực trong việc đề ra kế hoạch kinh tế để phân bổ nguồn tài nguyên và lựa chọn nghành công nghiệp để khuyến khích tăng trưởng.Ngược lại, Đức lại dựa vào tác động của thị trường nhiều hơn.

Anh là một sự so sánh có lợi khác.Đã từng là một quốc gia thịnh vượng và có công nghệ kĩ thuật tiên tiến, Anh đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế khủng khiếp.Đã có lần nước Anh phải đối mặt với những vấn đề tương tự như những vấn đề mà Mỹ đang phải đối mặt hiện nay.Những nhà quản lí và công nhân không tin tưởng nhau và thường phàn nàn với chính phủ các khó khăn.

Sự khác nhau cơ bản giữa hai nước này là hệ thống lập kế hoạch kinh tế quốc gia củ Anh, cái đã chứng minh sự kém hiệu quả của việc thiếu vắng sự hợp tác giữa người lao động và người quản lí.Ngược lại, Mỹ nhìn chung thường cho phép các nhóm tự ra quyết định.Tuy nhiên, dẫn đến sự thiếu đoàn kết.

Mỹ có một sự lựa chọn.Mỹ có thể đi theo con đường của Anh hoặc đi theo sự chỉ dẫn của Đức và Nhật.Có thể xã hội Mỹ quá thông thoáng nên sự can thiệp của chính phủ đối với sự bành trướng của Nhật và Đức là không thể hoặc không thoả mãn. Do đó, rõ ràng là sự hợp tác và sự cam kết từ các bên là rất cần thiết. Chính phủ Mỹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường sự nhất trí rộng rãi giữa các đại diện của chính phủ, các nhà kinh doanh, các học giả chuyên nghiệp, người tiêu dùng và người lao động trong việc lập chính sách.Có một vài dự luật trong quốc hội đề nghị sáng lập một hội đồng độc lập quốc gia về hợp tác để cung cấp một diễn đàn cho những người đại diện của người lao động, nhà kinh doanh và chính phủ để nhận biết các vấn đề kinh tế quốc gia và phát triển các chiến lược các chính sách để giải quyết nhữnh vấn đề này.

Tất cả các bên cần phải xem xét lại vai trò của mình trong thương mại.Các nhà quản lí nên đặt ra câu hỏi làm thế nào để có thể theo đuổi lợi nhuận mà công nhân không bị xa lánh quá mức.Lao động có tổ chưc cần phải chú ý rằng lương, lợi nhuận và bảo hiểm nghề nghiệp không thể tăng nếu không có sự tăng năng suất lao động nếu việc giảm nhân công có thể được hạn chế trong những thời kì nền kinh tế khó khăn.Các tổ chức chuyên nghành cần phải đảm bảo ngân quỹ cho việc nghiên cứu quốc tế. Hệ thống lí thuyết cũng có một vai trò trong việc giới thiệu cho người tiêu dùng biết về những chi phí to lớn của chủ nghĩa bảo vệ thương mại để họ có thể hiểu rõ hơn về việc áp dụng hàng loạt các biện pháp bảo hộ(hoặc không áp dụng) mà các nhà sản suất, các nhà chính trị và các nhà lãnh đạo nhân công Mỹ đề xuất.Chính phủ Mỹ cần một chính sách thương mại rõ ràng và nhất quá.Hiện tại các chính sách của Mỹ là không rõ ràng và không thể dự đoán được, những nỗ lực nửa vời của Mỹ trong việc xúc tiến thương mại đã đem lại một kết quả không mong muốn.Cuối cùng tất cả các đảng phái cần phải hiểu rằng lợi ích của họ cần phải gắn liền với nhau và phải coi các đảng phái khác là đối tác hơn là kẻ thù.

Cùng với lòng tự hào, sự cam kết, sự quyết tâm và sự hy sinh, các công ty phải trung thành với khái niệm Marketing-không phải chỉ ở trong nước mà ở cả nước ngoài.Theo một cách nào đó, các công ty Cooper và Kleinschmidt là những công ty đang hướng về chiến lược Marketing, đã phát hiện ra rằng phải phân đoạn thị trường thế giới và thiết kế những sản phẩm phù hợp cho từng đoạn thị trường nhằm đạt được sự tăng trưởng mạnh về xuất khẩu.Các công ty của Mỹ phải chú trọng tới Marketing nhiều hơn ở thị trường nước ngoài nếu họ muốn nâng cao sức cạnh tranh.