Những lợi thế so sánh trong kinh doanh dịch vụ

V. Terpstra nhấn mạnh 4 lợi thế chủ yếu sau:

(1). Lao động (Labor)

– Các ngành dịch vụ thường có hàm lượng lao động cao, gồm cả hai loại: lao động trí tuệ cao và lao động trí tuệ nghề.

  •  Lao động kỹ thuật cao là lợi thế hàng đầu, quyết định đến vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế tri thức. Lao động trí tuệ cao thể hiện rõ ở các loại dịch vụ như: phát minh hay sáng chế, tác quyền, giấy phép, nhượng quyền thương mại, tư vấn kỹ thuật (Ingeneering), bí quyết kỹ thuật, Marketing – nghiên cứu và dự báo thị trường…
  •  Lao động kỹ thuật nghề như hướng dẫn viên du lịch, bán hàng, dịch vụ văn hoá – nghệ thuật, mỹ viện….

Trên thực tế, cách chia các loại lao động này cũng chỉ mang tính tương đối. Bởi lẽ trong một ngành dịch vụ rất có thể cũng có cả lao động trí tuệ cao và lao động kỹ thuật nghề. Thí dụ, dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục… đều có cả lao động trí tuệ cao và lao động kỹ thuật nghề.

– Như vậy, những nước phát triển và đang phát triển thường có những lợi thế so sánh về lao động rất khác nhau. Nói chung, những nước phát triển có lợi thế đáng kể về lao động trí tuệ cao nhưng nguồn lao động về số lượng không lớn(do tỷ lệ tăng dân số hàng năm rất thấp), cho nên thường chú trọng phát triển những loại hình dịch vụ cao cấp. Ngược lại, những nước đang phát triển lại có lợi thế về lao động kỹ thật nghề và nguồn nhân lực khá dồi dào nên quan tâm phát triển những ngành dịch vụ phổ cập, không đòi hỏi nhiều lao động trí tuệ cao.

(2). Vốn (Capital)

Về cơ bản, như cầu vốn trong kinh doanh dịch vụ thường không lớn. Nhìn chung lượng vốn đầu tư bình quân theo lao động trong kinh doanh dịch vụ ít hơn so với kinh doanh hàng hoá. Điều này cũng dễ hiều bởi lẽ, kết quả đầu ra của quá trình sản xuất dịch vụ chính là hành động hay lợi ích, tức là những sản phẩm vô hình. Nhu cầu vốn không lớn trong kinh doanh dịch vụ thể hiện rõ hơn trong những ngành dịch vụ cao cấp, nhu cầu phát minh / sáng chế, tác quyền, giấy phép, nhượng quyền thương mại, đặc biệt là dịch vụ tư vấn. Xin lưu ý ở đây, vốn tri thức hay vốn trí tuệ là điều kiện tiên quyết chứ không phải vốn tài chính hay tiền bạc. Điều này không loại trừ một số ít trường hợp cần vốn lớn như ngành dịch vụ bưu chính viễn thông.

Như vậy, những nước hay doanh nghiệp ít vốn sẽ có lợi thế trong kinh doanh dịch vụ hơn so với kinh doanh hàng hoá.

(3). Công nghệ (Technology)

Trong hoạt động kinh tế nói chung cũng như trong kinh doanh dịch vụ quốc tế nói riêng, sự phát triển của công nghệ, nhất là công nghệ thông tin là một trong những lợi thế đặc biệt quan trọng. Lợi thế về công nghệ đang thúc đẩy mạnh mẽ cho dịch vụ phát triển. Dĩ nhiên các ngành dịch vụ khác nhau thường sử dụng những công nghệ khác nhau nhưng đều chú trọng đến lợi thế của “mạng số các dịch vụ tích hợp” ISDN (Intergrated Services Digital Net- work).

Đối với các hãng dịch vụ, việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) sẽ thúc đẩy khả năng ứng dụng công nghệ ngày càng mở rộng, tạo ra được lợi thế công nghệ hơn nữa trong kinh doanh. Về xu thế đó, rõ ràng các nước công nghiệp phát triển có nhiều lợi thế hơn so với các nước đang phát triển.

(4). Chuyển giao thông tin, công nghệ, vốn và con người

Bàn về lợi thế này, V. Terpstra nhấn mạnh mấy điểm cơ bản sau:

– Mạng thông tin toàn cầu ngày nay càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc xuất khẩu dịch vụ.
– Các chương trình phần mềm, các luồng thông tin qua biên giới là rất cần thiết cho việc phát triển thương mại quốc tế ngày nay.
– Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thường đòi hỏi phải chuyển giao vốn, công nghệ, và kinh nghiệm quản lý thông qua đó dịch vụ được cung cấp kịp thời.
– Như vậy, để dịch vụ được cung cấp ra các thị trường nước ngoài, cần phải có bước chuyển giao thông tin (hay những tài sản vô hình khác), công nghệ, vốn và con người. Trong đó, con người chính là những nhà cung cấp dịch vụ thường xuyên có quan hệ qua lại với khách hàng quốc tế.
Chúng ta có thể thấy rõ hơn những lợi thế trên qua phần nghiên cứu tiếp theo về Marketing – mix quốc tế đối với dịch vụ.