Những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách xoá đói giảm nghèo của nước ta

Theo nghiên cứu của GS. TS. Trần Ngọc Hiên -Về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020, các nhân tố đó là:

  • Tăng trưởng kinh tế phiến diện: Vấn đề đói nghèo, về khách quan, là sản phẩm tất yếu của một mô hình kinh tế nhất định. Khi một mô hình kinh tế đã cạn kiệt tiềm năng phát triển, thì dù có cố gắng của chính quyền cũng không thể giải quyết tốt vấn đề đói nghèo.Nhìn tổng quát, tác động của tăng trưởng kinh tế một cách phiến diện đến đói nghèo có nguyên nhân sâu xa từ việc duy trì quá lâu mô hình công nghiệp hóa đã lỗi thời ở thời đại hiện nay, còn nguyên nhân trực tiếp là bệnh thành tích theo nhiệm kỳ của bộ máy quản lý. Thực tiễn cho thấy, giải quyết vấn đề đói nghèo phải gắn liền với đổi mới mô hình kinh tế với đổi mới tư duy và phương pháp quản lý.
  • Nền sản xuất vẫn dựa nhiều vào lợi thế về giá nhân công rẻ nhưng thiếu trình độ; phần lớn là lắp ráp, gia công đơn giản do thiếu công nghệ hoặc phụ thuộc công nghệ nước ngoài, nên không tạo được giá trị gia tăng đáng kể. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, với nền tảng và các đặc điểm phát triển cơ bản giống như các nước đi trước nhưng đang luẩn quẩn trong bẫy TNTB, Việt Nam khó tránh khỏi cái bẫy này sau 10-15 năm nữa nếu từ bây giờ không nỗ lực tạo ra những đột phá trong phát triển các nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững
  • Môi trường bị tàn phá: Ở nước ta, mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng là một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo:
    • Trước hết, tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp.
    • Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu
    • Thứ ba, vấn đề môi trường tác động xấu đến phát triển kinh tế và đói nghèo ở nước ta trở nên cấp bách khi con sông Mê Công rơi vào tình trạng lâm nguy
  • Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp.
    • Thứ nhất, tính chất và mức độ “hành chính quan liêu”
    • Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự án kinh tế – xã hội, do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án, nên các dự án không có khả năng hoàn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài. Hiện nay, chỉ số ICOR quá cao
    • Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia còn do nôn nóng muốn làm tất cả, không có ưu tiên và bước đi phù hợp. Cách làm nặng về số lượng không chỉ gây lãng phí lớn, mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh tế và xã hội.
    • Thứ ba, tình trạng tham nhũng tác động không chỉ đến chất lượng và hiệu quả phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân..

Trong thời gian qua, thực hiện Chương trình 135, Chương trình 30a, cũng như hỗ trợ giải quyết đói nghèo đã góp phần giảm tỷ lệ nghèo, nhưng con số nghèo ở nông thôn và đô thị vẫn còn cao. Nếu về mặt tổ chức, quản lý nhà nước không khắc phục tình trạng hành chính quan liêu, lãng phí, tham nhũng thì các mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2020 khó có triển vọng.

Thực tiễn kinh tế – xã hội nước ta trong những năm qua cho thấy, không thể tách rời giữa tăng trưởng kinh tế với xóa đói, giảm nghèo.Tính cấp bách của việc đổi mới tư duy kinh tế chính trị về tăng trưởng và đói nghèo còn thể hiện ở nguy cơ Việt Nam rơi vào “cái bẫy thu nhập trung bình” của một quốc gia thoát nghèo và gia nhập vào nhóm nước có thu nhập trung bình nhưng rồi mất nhiều thập niên vẫn không trở thành nước phát triển. Như đã đề cập, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa Việt Nam vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình (hơn 1.000 USD/người). Hiện nay, nước ta buộc phải vượt qua thử thách của cái bẫy này.