Những nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại

- Nguồn lực cho sự phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại còn nhiều, chưa được khai thác hết.

Kinh tế tư nhân trong các ngành từ công nghiệp, nông nghiệp đến thương mại… đều cho thấy khu vực kinh tế này được hình thành từ nguồn lực của các giai tầng trong xã hội như nông dân, người buôn bán, thợ thủ công, chủ doanh nghiệp… họ chính là nhân dân, vì thế khu vực kinh tế tư nhân tiềm năng và sức mạnh của nó thực sự to lớn và có tác động ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế tư nhân.

Nguồn vốn tích luỹ, tiết kiệm của nhân dân có thể đầu tư phát triển kinh tế còn nhiều, theo ước tính vốn đầu tư của tư nhân chiếm trên 70% vốn đầu tư toàn xã hội, đây là nguồn vốn có nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết. Năm 2002, nguồn vốn khu vực kinh tế tư nhân cả nước đạt 50.000 tỉ đồng, đưa tỉ trọng đầu tư của khu vực này so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ 24% (năm 2001) lên 27,2% (năm 2002), nhờ vậy tốc độ tăng GDP đạt 7,04% đứng thứ 2 Châu Á  (chỉ sau Trung Quốc) [40, tr. 327]; Năm 2004, tổng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân là 57.594,9 tỉ đồng, chiếm  30,9% tổng vốn đầu tư xã hội.  Thông qua hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân nói chung và trong lĩnh vực thương mại nói riêng, nguồn vốn trong dân đã dần dần được sử dụng có hiệu quả, thúc đẩy quy mô đầu tư  của nền kinh tế. Có thể nói nguồn vốn đầu tư trong nước nói chung và nguồn vốn đầu tư của tư nhân nói riêng thực sự là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của nước ta.

Nguồn lao động: Cùng với nguồn vốn tích luỹ, năm 2000 nước ta có 36 triệu lao động, trong đó có  1,3 triệu người có trình độ đại học, cao đẳng; 1,6 triệu người có trình độ trung cấp kỹ thuật, nghiệp vô;  8,2 triệu lao động đã qua đào tạo, chiếm tỉ lệ 22,02%; còn 8-10 triệu lao động chưa có việc làm. [40, tr.327] (năm 2005 Đà Nẵng có nguồn lao động là 386.487 người, trong đó lao động có việc làm là 367.761 người, số người chưa có việc làm là 18.726 người, chiếm 4,8%. Trong sè 367.761 người thì,  trình độ cao đẳng-đại học có 56.048 người, chiếm 15,2%; trình độ trung cấp có  29.027 người, chiếm 7,9%; công nhân kỹ thuật có 97.000 người, chiếm 26,4%) (phô lục 8).  Ngoài lao động còn đất đai, mặt nước, tài nguyên tuy không nhiều nhưng phong phú, đa dạng, đặc biệt là khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, thâm canh, tăng vụ trong nông nghiệp còn dồi dào, ngành nghề trong nông thôn còn tiềm Èn. Đây thực sự là mảnh đất thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển. Việt Nam có hơn 2 triệu người định cư, sinh sống, làm ăn ở nước ngoài, trong đó có 10 vạn trí thức. Đó cũng là một nguồn lực quan trọng. Nếu có chính sách đúng họ có thể trở thành cầu nối chuyển vốn, khoa học, công nghệ, máy móc thiết bị về để đầu tư phát triển kinh tế trong nước thông qua khu vực kinh tế tư nhân. Tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề và những kinh nghiệm sản xuất kinh doanh bí truyền được tích luỹ qua nhiều đời trong từng gia đình, dòng họ sẽ là nguồn sáng tạo vô tận cho sự tăng trưởng kinh tế nếu có chính sách khơi dậy được hết tiềm năng này trong khu vực kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân nói chung, trong đó kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại nói riêng chủ yếu là khai thác vốn tự có, sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu tại chỗ, bởi vậy nó rất phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và trong quá trình vận động, phát triển, kinh tế tư nhân phải biến đổi để thích ứng theo hướng xã hội hoá ngày càng cao. Trình độ xã hội hoá thể hiện trên một số điểm như: Sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc; sự đan xen liên kết với nhau các loại hình sở hữu thông qua các loại hình tổ chức sản xuất – kinh doanh ngày càng phát triển rộng rãi; sự liên kết hợp tác trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hoá ngày càng phát triển; quy mô các đơn vị sản xuất kinh doanh lớn dần lên. Đây là xu hướng xã hội hoá của nền kinh tế nước ta và có thể ra đời theo mấy hướng sau: Hợp tác với nhau để cùng sản xuất ra một loại sản phẩm; có thể làm vệ tinh cho nhau; các doanh nghiệp liên doanh liên kết với nhau; các doanh nghiệp có thể trở thành các thành viên tự nguyện của tập đoàn kinh tế hay các Công ty mẹ theo từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh; các doanh nghiệp tư nhân sẽ vươn ra đầu tư vốn huy động sản xuất kinh tế ở nước ngoài.

- Sù ổn định chính trị, xã hội của nước ta có vai trò quan trọng đến phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại nói riêng, vì các lý do sau đây:

Một là, sự ổn định chính trị, xã hội làm cho người dân yên tâm làm ăn, họ có lòng tin vào tương lai phát triển của đất nước, nên mạnh dạn bỏ vốn đầu tư. Nhờ vậy, linh tế có điều kiện tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó kinh tế tư nhân nói chung và kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại nói riêng cũng sẽ phát triển.

Hai là, sù ổn định chính trị, xã hội tạo môi trường thuận lợi để thu hót đầu tư nước ngoài. Một khi các doanh nghiệp (cả doanh nghiệp sản xuất lẫn doanh nghiệp thương mại) đã bỏ vốn đầu tư, mở cơ sở kinh doanh tại Việt Nam thì nhất định thị trường – bao hàm cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài được mở rộng, việc buôn bán trở nên sầm uất, sôi động, kinh tế tư nhân thương mại có điều kiện phát triển.

Các nhà đầu tư nước ngoài chỉ yên tâm bỏ vốn đầu tư vào nước ta khi chóng ta tạo được sự ổn định chính trị, xã hội. Những cam kết mang tính pháp lý của Nhà nước thông qua luật đầu tư, thông qua hàng loạt chính sách vv… tạo niềm tin chắc chắn cho các nhà đầu tư.

Với thành phố Đà Nẵng, ngoài việc thực hiện nghiêm túc, ổn định những đườn lối chính sách mà Trung ương nêu ra, thì việc chính quyền địa phương quản lý, giữ gìn để thành phố ổn định, đoàn kết với môi trường xã hội yên ổn, trong lành sẽ là điều hấp dẫn thu hót các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư kinh doanh bình thường.

Lĩnh vực kinh tế thương mại là một lĩnh vực nhậy cảm. Mọi sự mất ổn định trong sinh hoạt xã hội như bãi chợ, biểu tình, sự thay đổi đột ngột những quy định mang tính địa phương về cơ sở làm ăn, buôn bán sẽ gây nguy hại cho sự phát triển trong lĩnh vực này.

  Ba là,  hệ thống chính sách, pháp luật hoàn thiện sẽ thúc đẩy kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại phát triển

Cùng với sự ổn định chính trị, Đảng và Nhà nước ta phải có những cơ chế chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, bởi các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có tác động ảnh hưởng ở mức độ nhất định lên quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại tư nhân. Nền kinh tế càng phát triển, quan hệ kinh tế càng được mở rộng cả trong và ngoài nước, thì hệ thống chính sách, pháp luật hoàn thiện sẽ là một nhân tố quan trọng giúp cho kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại chủ động, khai thác và phát huy các tiềm lực của mình để tối đa hoá lợi nhuận. Nếu hệ thống chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện hoặc thay đổi đột ngột doanh nghiệp sẽ không yên tâm cho việc đầu tư, cũng như có thể gặp rủi ro trong kinh doanh. Trong thực tế những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật và ban hành những cơ chế, chính sách mới về đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học, công nghệ, thị trường vv… nhằm khuyến khích kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian đến.

Bốn là, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế:

Toàn cầu hoá kinh tế là xu hướng khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức Ðp cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Chính vì vậy, toàn cầu hoá kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế quốc tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất. Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và qui mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu. Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là sự tham gia, gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu theo những quy định chung của từng tổ chức đó cho các nước thành viên.

Xu thế toàn cầu hoá đang tác động sâu sắc tới mối quan hệ quốc tế và quá trình hội nhập về kinh tế của các nước, trong đó có nước ta. Tất cả các nước trên thế giới đang vận động theo xu thế này bởi các nước đều nhận thức rằng nếu đơn độc đứng ngoài cuộc sẽ bị cô lập, sẽ nghèo nàn lạc hậu. Trong dòng xoáy của quá trình toàn cầu hóa đó, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ ở mỗi quốc gia  đều phải luôn đối mặt với sự cạnh tranh từ nhiều phía, cả trong nước lẫn ngoài nước để tồn tại. Đây cũng là cơ hội và cũng là thách thức vô cùng to lớn mà mỗi doanh nghiệp phải vượt qua. Ngay đối với những doanh nghiệp nhà nước với quy mô lớn hiện nay của nước ta thì việc vượt qua được rào cản này cũng không phải dễ dàng. Trong bối cảnh đó các doanh nghiệp thương mại tư nhân nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng sẽ cần phải tự phấn đấu vươn lên để vượt qua thách thức này. Để từng bước thích ứng với thông lệ, luật pháp trên thị trường thế giới và với quá trình tự do hoá thương mại, thì thương mại tư nhân phải gắn phát triển của mình với sự phát triển của thương mại Việt Nam, gắn phát triển thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, từng bước đưa thương mại Việt nam hội nhập với thương mại khu vực và thế giới.   Để đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết  07/NQ-TW ngày 27-11-2001 về Hội nhập kinh tế quốc tế. Quan điểm của Đảng ta  đã chỉ rõ cần tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân cũng phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Đà Nẵng là một trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ lớn chịu tác động trực tiếp, thường xuyên của kết quả hội nhập. Khi nền kinh tế nước ta hội nhập sau vào kinh tế khu vực và thế giới  thì Đà Nẵng cũng sẽ có điều kiện hội nhập mạnh mẽ. Bên cạnh mặt tích cực như thị trường mở  rộng, nguồn vốn, công nghệ từ bên ngoài vào, thì công nghiệp, thương mại, dịch vụ có điều kiện phát triển mạnh và thách thức đặt ra cũng hết sức lớn. Thương mại tư nhân ở Đà Nẵng sẽ phát triển ra sao, quy mô thế nào, sự liên kết giữa các cơ sở kinh doanh tư nhân trên lĩnh vực này với các tập đoàn thương mại lớn của thế giới trên địa bàn ra sao là những vắn đề đặt ra trên địa bàn nghị sự của chính quyền thành phố và của các nhà kinh doanh tư nhân địa phương