Những quy định cụ thể của UCP600 điều chỉnh chứng từ vận tải

 

Chứng từ vận tải là chứng từ quan trọng nhất vì nó xác nhận quyền sở hữu hàng hóa và được dùng làm chứng từ chủ yếu để nhận hàng ở nơi đến. Trên thực tế, việc vận chuyển hàng hóa chủ yếu bằng đường biển. Nên vận đơn đường biển được sử dụng phổ biến nhất. Theo điều 21 UCP600 – Giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng quy định là người ký chứng từ có thể là người chuyên chở hay đại lý hoặc người thay mặt người chuyên chở; thuyền trưởng hay đại lý hoặc người thay mặt thuyền trưởng. Người ký chứng từ, khi ký phải thể hiện rõ tư cách pháp nhân của mình. Riêng đối với đại lý, khi ký, ngoài việc thể hiện là đại lý, còn phải ghi rõ tên của người mà mình đại lý cho họ.

Theo các điều khoản 20-27 của UCP600 quy định rất cụ thể về hàng xếp lên tàu. Việc bốc hàng hoặc xếp hàng lên một con tàu đích danh phải được chứng minh bằng ghi chú trên vận đơn là hàng đã bốc lên tàu và ngày xếp hàng lên tàu sẽ được coi là ngày giao hàng (the date stated in the on board notation will be deemed to be the date of shipment). Như vậy, theo UCP600, ngày xếp hàng lên tàu chính là ngày giao hàng. Còn ngày phát hành chứng từ vận chuyển sẽ được coi như ngày giao hàng nếu như chứng từ không có ghi chú khác về ngày xếp hàng lên tàu. Trong thực tế cũng có những trường hợp ngày phát hành chứng từ vận chuyển có thể trước hoặc sau ngày xếp hàng lên tàu. Như vậy, sẽ không được coi ngày phát hành chứng từ vận chuyển là ngày giao hàng. Và các hãng tàu thường xác nhận hàng hóa được bốc lên tàu bằng nhóm từ như: “Clean on board”, “Shipped on board” “Clean shipped on board”, tất cả các nhóm từ trên đều có ý nghĩa hàng hóa đã được xếp lên tàu, ngày ghi xác nhận này được coi là ngày giao hàng. Trường hợp trên B/L không có ghi chú hàng hoá đã được xếp lên tàu v à thể hiện là tàu dự định “Intended vessel” hay những từ tương tự thì trên câu ghi chú “CLEAN ON BOARD” phải thể hiện ngày đã bốc hàng lên tàu, tên tàu ngay cả đó là “tàu dự định”. Trong những trường hợp như thế không cho phép thể hiện việc xếp hàng lên tàu bằng chữ in sẵn trên B/L. Ngoài ra, trong trường hợp B/L thể hiện nơi nhận hàng để gửi “Place of Receipt” khác với cảng bốc hàng “Port of Loading” thì trong ghi chú “Clean on Board” phải bao gồm cả cảng bốc hàng như L/C quy định, tên con tàu mà hàng hóa đã bốc lên tàu.

Theo điều 21a – UCP600 quy định: “thể hiện việc giao hàng từ cảng xếp đến cảng dỡ hàng quy định trong tín dụng” có nghĩa là hành trình của hàng hóa phải được thể hiện cụ thể trên chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển. Còn trong trường hợp trên chứng từ vận chuyển chưa xác định rõ được cảng xếp hoặc ghi cảng dự định xếp hàng thì khi xếp hàng lên tàu phải ghi chú rõ tên cảng xếp như quy định trong tín dụng, ngày xếp hàng lên tàu và tên tàu hàng đã xếp lên. Ta nhận thấy nếu vận đơn có ghi sẵn “Shipped On Board” thì ngày phát hành vận đơn được coi là ngày xếp hàng lên tàu và cũng chính là ngày giao hàng. Còn đối với vận đơn “Received For Shipment” thì ngày phát hành B/L có thể trước hoặc trùng ngày xếp hàng lên tàu. Nghĩa là khi nhà xuất khẩu giao hàng lên tàu thì hãng tàu sẽ ghi một biên nhận cho chủ hàng, sau đó sẽ đóng lên B/L mục “CLEAN ON BOARD” và ngày lên tàu. Ngày phát hành hoặc ngày ký vận đơn ở đây phải là ngày trước hoặc trùng với ngày của thời hạn giao hàng cuối cùng được ghi trong L/C. Do phải xuất trình vận đơn phù hợp mới được nhận hàng nên các vận đơn phải được gửi đi càng nhanh càng tốt để khi tàu vào cảng thì người nhận hàng có thẩm quyền ngay đối với hàng hóa. Trong một vài trường hợp, do khoảng cách từ cảng đi tới cảng đến quá gần nên tàu hàng sẽ đến trước vận đơn. Do đó, người xuất khẩu phải dự tính một khoảng thời gian giới hạn xuất trình chứng từ. Theo điều 14c UCP600 quy định: Ngân hàng sẽ không chấp nhận vận đơn xuất trình sau 21 ngày kể từ ngày ký B/L. Tuy nhiên, cần chú ý rằng thời hạn này phải nằm trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng.

Vấn đề chuyển tải được UCP600 đề cập với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển, còn không đề cập đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu. Điều 20 và 21 của UCP600, khoản b và c quy định là trên chứng từ vận chuyển có thể ghi hàng hóa sẽ hoặc có thể chuyển tải miễn là toàn bộ hành trình vận chuyển chỉ sử dụng một hoặc cùng một chứng từ.

Theo điều 27 UCP600 thì một vận đơn hoàn hảo là một vận đơn không có các điều khoản hay ghi chú nêu tình trạng khuyết tật của hàng hóa hoặc của bao bì như: “broken case” hay “secondhand bags”. Nếu có ghi chú các điều khoản này thì vận đơn không được coi là vận đơn hoàn hảo.

Một điều cần chú ý đối với Chứng từ vận tải đa phương thức là ngoài hãng tàu hay thuyền trưởng hay đại lý của họ còn có thể là người chuyên chở đa phương thức (Multimodal Transport Operator) lập và ký chứng từ vận tải đa phương thức. Ngoài ra, đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu (Chater party bill of lading) và Vận đơn hàng không (Air waybill – AWB ) trừ khi L/C yêu cầu vận đơn theo hợp đồng thuê tàu thì Ngân hàng cũng sẽ chấp nhận loại vận đơn này miễn là nó phải thỏa mãn quy định của điều 20-27 UCP 600.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • ucp 600
  • ,