Những quy định của UCP600 điều chỉnh chứng từ bảo hiểm

Chứng từ bảo hiểm bao gồm đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, hoặc tờ khai theo hợp đồng bảo hiểm đều là bằng chứng hợp đồng bảo hiểm và có giá trị như nhau để đòi Công ty bảo hiểm bồi thường khi có tổn thất. L/C yêu cầu chứng từ nào thì nhà xuất khẩu phải xuất trình chứng từ hợp lệ. Tuy nhiên, thông thường người nhập khẩu vẫn mong muốn và yêu cầu nhà xuất khẩu xuất trình bảo hiểm đơn hơn là Giấy chứng nhận bảo hiểm vì về mặt giấy tờ thì bảo hiểm đơn vẫn mang ý nghĩa “chính thức” hơn. Theo điều 28 UCP 600 quy định: “Tín dụng phải quy định loại bảo hiểm được yêu cầu và những rủi ro phụ được bảo hiểm, nếu có”, những từ không rõ ràng như “rủi ro thông thường” hay “rủi ro tập quán” không nên được dùng vì dùng các từ này đồng nghĩa với việc Ngân hàng sẽ chấp nhận những chứng từ bảo hiểm được xuất trình mà không chịu trách nhiệm về bất cứ rủi ro nào không được bảo hiểm. Nếu không có những quy định rõ ràng trong thư tín dụng thì cho dù có hay không có ghi tiêu đề “mọi rủi ro”, thì Ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ bảo hiểm như được xuất trình mà không chịu trách nhiệm gì về bất cứ rủi ro nào đó có bị loại trừ hay không. Ngoài ra, trừ khi được quy định khác trong thư tín dụng, Ngân hàng sẽ chấp nhận một chứng từ bảo hiểm có ghi rõ ràng bảo hiểm có mức miễn bồi thường được trừ hoặc miễn bồi thường không được trừ.

Theo điều 30 UCP600 quy định: Nếu số tiền được ghi cả bằng số lẫn bằng chữ thì chúng phải khớp với nhau và loại tiền ghi trong chứng từ bảo hiểm phải đồng nhất với loại tiền ghi trong thư tín dụng trừ khi L/C có quy định khác. Nội dung được mô tả trong chứng từ bảo hiểm phải phù hợp với nội dung và từ ngữ đã sử dụng trong L/C.

Theo điều 28a UCP600 thì: Chứng từ bảo hiểm phải do các công ty bảo hiểm hoặc những người bảo hiểm hoặc đại lý của họ và được ký tên. Các giấy chứng nhận  bảo hiểm do nhà môi giới bảo hiểm cấp sẽ không được chấp nhận trừ khi tín dụng cho phép rõ ràng.

Trên thực tế, thông thường thì ngày ký chứng từ bảo hiểm cũng là ngày hiệu lực của Bảo hiểm. Hàng hóa phải được đóng bảo hiểm đầy đủ trước khi được giao lên tàu. Do đó “Ngày phát hành chứng từ bảo hiểm không được muộn hơn ngày giao hàng” (theo điều 28e UCP600). Điều đó có nghĩa là ngày ký chứng từ bảo hiểm phải trước hoặc trùng với ngày ký B/L hay ngày bốc hàng lên tàu. Trong trường hợp chậm hơn ngày bốc hàng lên tàu thì Ngân hàng sẽ từ chối thanh toán trừ khi trong L/C có quy định khác hay trừ khi chứng từ bảo hiểm xác nhận rằng bảo hiểm có hiệu lực chậm nhất kể từ ngày bốc hàng lên tàu.

Đối với việc chuyển nhượng quyền bảo hiểm hàng hoá trong trường hợp người được bảo hiểm là người xuất khẩu, khi bán hàng hóa của mình tức là  người xuất khẩu chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người nhập khẩu thì đồng thời cũng phải chuyển quyền bảo hiểm hàng hóa, việc chuyển nhượng này được thực hiện bằng hình thức ký hậu để trống. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp không cần ký hậu. Ví dụ: Trên chứng từ bảo hiểm ghi là “The Insured : Bearer” có nghĩa là bất kỳ người nào cầm chứng từ bảo hiểm này cũng có quyền khiếu nại khi gặp rủi ro.

Ngoài ra, trừ khi tín dụng có quy định khác, nếu chứng từ bảo hiểm được phát hành nhiều bản gốc thì tất cả các bản gốc phải được xuất trình.