Những thành công bước đầu sau khi thực hiện luật thuế GTGT

1. Về kinh tế

Tốc độ tăng trưởng trong năm 1999 là 4,7% và năm 2000 là 6,7%. Nhiều ngành mũi nhọn như điện, xi măng, bưu điện, viễn thông, hàng không, ngân hàng đã phát triển khá mạnh. Một tác động rõ nhất là với thuế suất 0% việc hoàn thuế GTGT đã thiết thực hỗ trdợ các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu thông qua việc giảm bớt được giá thành, tạo điều kiện cạnh tranh thuận lợi trên trường quốc tế. Thuế GTGT đánh vào hàng nhập khẩu đã tích cực góp phần bảo vệ sản xuất nội địa và phát triển tiềm năng của nội lực kinh tế. Việc thuế GTGT không đánh vào vốn đầu tư và thuế TNDN có các mức miễn giảm thuế phải nộp khác nhau trong thời gian đầu cơ sở sản xuất mới được thành lập đã góp phần khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực ngành nghề, vùng kinh tế được ưu đãi đầu ư. Tổng mức đầu tư xã hội năm 1999 bằng 114,1% năm 1998 và năm 2000 bằng 112% năm 1999 và góp phần bảo đảm sự tăng trưởng về kinh tế.

2. Về tài chính

Trong 2 năm 1999-2000 cơ quan thuế đã phải hoàn trên 9.000 tỷ đồng tiền thuế GTGT nhưng ngành thuế vẫn bảo đảm hoàn thành vượt mức dự toán thu được giao (năm 1999 đạt 106,8%; năm 2000 ước đạt 109% và tăng 102% so với năm 1999), góp phần bảo đảm tỷ lệ tích luỹ trong nước tăng gấp đôi sau 10 năm, từ 14% GDP năm 1991 lên 27-28% GDP vào năm 2000, duy trì được tỷ lệ động viên về thuế, phí, lệ phí trong 10 năm qua là 19,4%. Những con số đó có ý nghĩa rất lớn, vừa góp phần trực tiếp tạo ra tốc độ tăng trưởng, vừa tạo ra một cách nhìn mới về cách thức và khả năng huy động nguồn lực phát triển đất nước trong tương lai.

3. Về giá cả, đời sống

Trước khi triển khai các luật thuế mới, đặc biệt là thuế GTGT, dư luận xã hội rất lo lắng, sợ sẽ có biến động lớn về giá cả. Tuy nhiên, nhờ triển khai tuyên truyền vận động các cơ sở kinh doanh không lợi dụng thuế GTGT để nâng giá hàng hoá dịch vụ, thực hiện tốt chế độ niêm yết giá và bán theo giá niêm yết cùng với nhiều biện pháp khác về kinh tế, kích cầu, quản lý giá cả… tình hình giá cả hàng hoá về cơ bản được ổn định, không có biến động lớn, đặc biệt đối với vật tư hàng hoá thiết yếu cho sản xuất và đời sống. Đó là thắng lợi rất đáng phấn khởi, hoàn toàn khác với tình trạng chung trên thế giới là ngay sau khi triển khai thuế GTGT, giá cả thường tăng lên dến 5-7%, thậm chí đến 10%.

4. Về quản lý

Nguyên tắc thuế GTGT đầu vào được khấu trừ sau khi tính thuế đầu ra đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện chế độ hoá đơn, kế toán ngày càng nhiều hơn. Ngoài số lượng trên 6000 DNNN, trên 2400 xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trên 30.000 công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân đã quen với việcthực hiện chế độ hoá đơn để được nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và có căn cứ để thực hiện chế độ tự kiểm tra, tự tính thuế, tự kê khai và tự nộp thuế vào kho bạc nhà nước, nâng dần được trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh, từng bước khắc phục tình trạng cán bộ quản lý cơ sở ở nhiều nơi đã làm thay công việc tính thuế, kê khai, nộp thuế của cơ sở kinh doanh. Qua đó, cơ quan có thuế có thêm điều kiện để quản lý hoạt động kinh doanh tính thuế qua hệ thống máy vi tính để tập trung được cán bộ cho công tác đôn đốc, kiểm tra, xử lý vi phạm.

Tuy thời gian chưa dài nhưng đã có căn cứ để khẳng định thành công bước đầu của việc triển khai các luật thuế và đó cũng chính là nhờ sự quan tâm lãnh đạo của Bộ chính trị, Quốc hội, Chính phủ, nhờ sự chỉ đạo của các tổ chức Đảng và Chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thuế với các ngành có liên quan, gắn nội dung triển khai các luật thuế mới với công tác quản lý kinh tế, xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ…

2. Những tồn tại và việc xử lý những vướng mắc về thuế GTGT

Đến nay, mặc dầu đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần, các luật thuế mới đặc biệt là thuế GTGT, còn bộc lộ khá nhiều tồn tại. Đây cũng là lẽ đương nhiên vì thuế GTGT là loại thuế tiến bộ nhưng cũng rất phức tạp nên ở nhiều nước, thuế GTGT thường được hoàn thiện sau 5-7 năm triển khai thực hiện, thậm chí có nơi đã qua chục năm vẫn thường xuyên sửa đổi bổ sung.

* Đối với thuế GTGT: Tồn tại nổi lên trước tiên là ảnh hưởng của việc chuyển từ 11 thuế suất thuế doanh thu sang hệ thống thuế GTGT chỉ còn 4 thuế suất. Một hậu quả rất rõ là có nhiều ngành được nộp thuế GTGT thấp hơn thuế doanh thu. Việc giảm 50% thuế GTGT phải nộp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp phải nộp thuế GTGT cao một cách tràn lan, thiếu căn cứ đã tạo nên tâm lý chờ đợi của nhiều doanh nghiệp, có quá nhiều khiếu nại kêu ca, khiến cho cơ quan chức năng lúng túng bị động. Ví dụ: thuế suất 5%-10% vừa phân biệt theo nguyên vật liệu trong kết cấu hàng hoá, vừa theo công dụng đã gây nhiều khó khăn trong giải thích vận dụng, điển hình là hàng cơ khí tiêu dùng (10%) và cơ khí dùng cho sản xuất (5%).

Ưu điểm nổi bật của thuế GTGT là khắc phục được việc thu thuế trùng lắp. Thế nhưng trên thực tế việc khong cho khấu trừ thuế đầu vào (hoặc cho khấu trừ thuế khoán theo tỷ lệ cố định là 3%) đối với trường hợp chỉ có hoá đơn bình thường mà thực chất là hàng đã được nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, là còn duy trì chế độ nộp thuế trùng lắp, cao hơn thuế doanh thu vì thuế suất thuế GTGT cao. Ngược lại, việc khấu trừ “khống” đối với nông, lâm, thuỷ sản mua của cơ sở sản xuất, khai thác trực tiếp, đã tạo nên nhiều sơ hở để cơ sở kinh doanh lợi dụng thông đồng trốn lậu thuế (cả đối với hàng tiêu thụ nội địa và hàng xuất khẩu), không tạo được lợi ích cho nông dân, ngư dân. Từ việc quy định có nhiều trường hợp được giảm thuế và nhiều tỷ lệ khấu trừ khác nhau, luật thuế đã bị xói mòn với nhiều mức thuế suất mới, thêm nhiều phức tạp, khó khăn cho công tác quản lý. Hàng hoá thuộc diện đánh thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế GTGT cũng đã gây trở ngại cho việc khấu trừ đầu vào ở khâu lưu thông.

Thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung qua nhiều văn bản (2 nghị quyết của UBTVQH, 4 nghị định của chính phủ và hàng chục thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết thi hành)… cũng gây khó khăn cho việc tra cứu của cán bộ thuế và nhà doanh nghiệp khi xác định thuế xuất. Chế độ hoá đơn chưa được thi hành nghiêm chỉnh với nhiều thủ đoạn trốn lậu thuế tinh vi từ hoá đơn giả  đến hoá đơn “đen” (mua của cơ quan thuế về bán lại cho cơ sở kinh doanh khác sử dụng để hợp pháp hoá việc mua bán hàng trốn lậu thuế), ghi doanh thu trên liên hoá đơn lưu tại cơ sở và trên liên giao cho khách chênh lệch đến hàng chục, hàng trăm lần… đang trở thành con dao 2 lưỡi trong công tác quản lý thu thuế. Theo tài liệu thống kê sơ bộ, từ 9/1999 đến 9/2000, chỉ riêng ở 15 tỉnh, thành phố đã kiểm tra phát hiện 1.278 tờ hoá đơn giả các loại có tổng số tiền hàng ghi hoá đơn trên 22,5 tỷ đồng với số thuế gian lần là 82,9 triệu đồng. Ngoài việc đề cao tinh thần tự giác của các doanh nghiệp, giải pháp ngăn chặn gian lận thuế qua hoá đơn và thực hiện các chế độ “hậu kiểm” đang là vấn đề nhức nhối, khó khăn, bất cập đối với ngành thuế vì số lượng hoá đơn cần kiểm tra quá lớn.

Xử lý những vướng mắc

Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng và đảm bảo khoảng 20%-25% trong cơ cấu thu của ngân sách nhà nước. Việc tăng về tỷ trọng thuế gián thu và đặc biệt là thuế GTGT là phù hợp với tình hình cắt giảm thuế nhập khẩu trong quá trình Việt Nam tham gia hội nhập khu vực và thế giới.

Thuế GTGT đảm bảo khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, đặc biệt là khuyến khích xuất khẩu. Loại thuế này đơn giản hoá chính sách và tăng cường tính trung lập của thuế…

Trong quá trình triển khai, chúng ta đã có nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung, song Luật thuế GTGT vẫn cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cho sát thực tế và phù hợp thông lệ quốc tế.

Vừa qua, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các ngành, địa phương và các doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ tiếp tục giải quyết vướng mắc:

– Bổ sung đối tượng chịu thuế GTGT

+ Đưa dịch vụ xuất khẩu phần mềm máy tính; sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài; dịch vụ xuất khẩu lao động vào đối tượng chịu thuế và áp dụng thuế suất 0% để doanh nghiệp được khấu trừ hoặc hoàn thuế đầu vào, nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm, dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

+ Đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), trước mắt bổ sung hàng hoá TTĐB xuất khẩu vào đối tượng chịu thuế GTGT nhằm khuyến khích xuất khẩu hàng hoá chịu thuế TTĐB. Về lâu dài, đối với hàng hoá, dịch vụ đặc biệt đều phải chịu cả thuế GTGT và thuế TTĐB.

+ Đưa ngành khai thác than đá xuất khẩu vào đối tượng chịu thuế GTGT để áp dụng thuế suất 0% cho mặt hàng than đá, doanh nghiệp được khấu trừ hoặc hoàn thuế đầu vào nhằm giảm bớt khó khăn trong khai thác than xuất khẩu, giải quyết các vấn đề xã hội, việc làm cho hàng ngàn công nhân lao động ở các mỏ than.

– Đưa hoạt động kinh doanh chứng khoán vào danh mục hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc phát hành và kinh doanh chứng khoán, khuyến khích huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển.

– Bổ sung các loại quà biế, quà tặng của người nước ngoài tặng cá nhân ở Việt Nam theo mức quy định vào đối tượng không chịu thuế GTGT cho phù hợp với luật thuế suất, nhập khẩu…

Về thuế suất thuế GTGT

– Một số nhóm hàng hoá, dịch vụ đã được Chính phủ xử lý cho tạm giảm thuế GTGT nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp. Để ổn định Luật thuế có thể điều chỉnh mức thuế suất từ 10% xuống 5% đối với hàng hoá, dịch vụ là các sản phẩm thuộc tư liệu sản xuất phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo để sản xuất ra sản phẩm khác và một số sản phẩm tiêu dùng mang tính cần thiết như phương tiện cho người tàn tật…

– Ngoài những sản phẩm trên, đề nghị tiếp tục giảm mức thuế suất cho các mặt hàng là tư liệu sản xuất phục vụ quá trình sản xuất tiếp theo để sản xuất ra các sản phẩm khác như đá mài, cao su sơ chế, ống thuỷ tinh trung tính, giấy in báo, bình bơm thuốc trừ sâu trước đây áp dụng thuế doanh thu đều ở mức thuế suất thấp 1%, 2%..

Khấu trừ thuế, hoàn thuế

– Nghị định 102/1998/NĐ-CP ngày 21/12/1998 và Nghị định số 78/1999/NĐ-CP ngày 20-8-1999 của Chính phủ đã cho phép mở rộng diện khấu trừ thuế cho các hàng hoá là nông, lâm, thuỷ sản, phế liệu, hàng hoá chịu thuế TTĐB của sơ sở thương mại mua trực tiếp của người sản xuất… thực chất là khuyến khích sản xuất, chế biến hàng nông, lâm, thuỷ sản, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh để các doanh nghiệp không phải nộp thuế GTGT cao hơn thuế doanh thu. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã nảy sinh các mâu thuẫn mới:

+ Có quá nhiều tỉ lệ khấu trừ, gây phức tạp cho quá trình thực hiện và không khuyến khích thực hiện hoá đơn, chứng từ. Việc cho phép khấu trừ khống, dựa vào bảng kê đã tạo khe hở cho việc kê khai không trung thực để được khấu trừ hoặc hoàn thuế, gây thất thu cho NSNN.

+ Doanh nghiệp kinh doanh trong nước các mặt hàng nông, lâm, thải sản thì được khấu trừ, doanh nghiệp xuất khẩu thì không được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Điều này đã không khuyến khích được xuất khẩu.

+ Chính sách thuế chưa thống nhất, chưa công bằng giữa các đối tượng nộp thuế như chưa cho khấu trừ thuế đối với dịch vụ chịu thuế GTGT có hoá đơn bán hàng thông thường như: vận tải, bốc xếp, sửa chữa… trong khi các hàng hoá, dịch vụ khác được khấu trừ hoặc hoàn thuế.

– Công tác hoàn thuế: Cơ quan thuế tiếp tục cải tiến và đơn giản hoá hơn nữa các thủ tục hoàn thuế cũng như tăng cường công tác kiểm tra sau hoàn thuế. Năm 2000, thoe kế hoạch, ngành thuế sẽ tiến hành hoàn thuế khoảng 3.260 tỷ đồng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo ước tính đến hết năm 2000, thực tế số thuế được hoàn sẽ lên tới khoảng 4000 tỷ đồng, tăng 740 tỷ đồng so kế hoạch.